Tháp Chuông nhà thờ Cái Mơn

www.caimon.org mến chào bạn        

Tháp chuông

 

 Gác chuông cũ bên quốc lộ 57 phải di dời

Đó là lư do xây dựng tháp chuông mới   --->

 

 

Tháp chuông mới

Kết cấu bên trong:

Trọng tấn toàn bộ công tŕnh : 800 tấn
Bê tông cốt sắt : 550 tấn (= 202m3)
Xây, tô, lót sàn : 234 tấn (= 840m2)

Mái ngói dán
xi măng : 6 tấn

               Chiều cao của tháp từ mặt nền hoàn thiện, tầng trệt lên đến kim thu sét là : 54m
                  Chiều cao của tháp tính từ mặt nước sông Cái Mơn lúc ṛng thấp nhất là : 56,52m
Số tầng lầu của tháp là : 9

                           Từ mặt nền hoàn thiện đến tầng hai để đứng giựt chuông I là 13,5m
Mỗi tầng để chuông cao 4m
Sàn bát giác cao 2m
Thánh giá bằng Inox cao 3m
Kim thu sét cao khỏi đỉnh Thánh giá 2m.

 

 

 

Kết sắt móng  

Đổ bê tông móng

 

Những ngọn tháp cao nhất ở Việt Nam:


Theo Giuness Việt Nam do nhà xuất bản trẻ và các công tác viên thực hiện đă công bố như sau : (hết thế kỷ XX )
Ngọn tháp cao nhất : Tháp Bà thuộc loại tháp Chàm (Khánh Hoà) cao 20,80m xây từ thế kỷ thứ XI.
Tháp Chùa th́ có tháp Chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên Huế) cao 21,24m gồm 7 tầng xây năm 1844.
Tháp nhiều tầng nhất là tháp Chùa Phổ Minh (Hà nam Ninh cũ) gồm 14 tầng xây từ đời Lư Trần, với thiết kế cao và phức tạp, toàn bộ nặng khoảng 700 tấn, nhưng phần đáy vuông góc dài mỗi cạnh 5,20m mà vẫn trụ vững.
Về Tháp chuông và toà Phương Đ́nh của đạo Công giáo đến nay có rất nhiều nhưng đa số được kết cấu liên kết với Nhà thờ. Các Tháp trụ độc lập th́ đa số kết cấu trụ cột và đà liên kết để treo chuông.


Tháp chuông đầu tiên ở Việt Nam:


Tháng 7 năm 1864 người Công giáo đầu tiên là Phaolô Nguyễn trường Tộ chỉ huy xây dựng Ḍng Thánh Phaolô ở Tp.HCM (Sàig̣n), và Tháp chuông đầu tiên được hoàn thành ngày 18-7-1864. Tháp chuông nầy được kết cấu liên kết với công tŕnh sự của Thánh đường.


Tháp chuông và ṭa Phương Đ́nh độc lập

 

đó là một cấu trúc trong quần thể các công tŕnh sự Nhà thờ Phát Diệm. (Xin xem trong mục sưu tầm).
Ṭa Phương Đ́nh đứng độc lập có chiều cao 25m, 3 tầng lầu, cạnh đáy 24m và 17m, dưới treo trống trên treo chuông, chuông nặng 2 tấn, cao 1,9m, đường kính 1,10m. Có khắc ghi lời chuông như sau:


"Tôi ca tụng Chúa thật
 Tôi kêu gọi dân Chúa
 Tôi tập họp giáo sĩ
 Tôi khóc người qua đời
 Tôi đẩy lui dịch tể
 Tôi điểm tô ngày lễ"


Tháp chuông đứng độc lập nầy được hoàn thành vào năm Canh Dần 1890 thời vua Thành Thái.
Ngày 18-01-1988 được Bộ văn Hóa công nhận là di tích lịch sữ văn hóa quốc gia.

 

Nhận định về Tháp chuông:

 

 

Cha Micae Văn công Nghi xây Nhà thờ năm 1956.

Cha Giuse Nguyễn ngọc Thích tiếp nối công tŕnh với Tháp chuông năm 2000.

 

Khách quan: Không được như ư nhất là phần chót tháp. Nhưng mọi người đều thông cảm v́ tháp cao quá, công nghệ lại thô sơ, tài chánh hạn hẹp.
Đối với trang bị quá nghèo nàn ( giàn giáo không đủ tiêu chuẩn ) mà không xăy ra một tai nạn nào thật là điều lạ. Đối với giáo dân họ đạo : "Tất cả là ơn Chúa."
Công tŕnh không to lắm nhưng cũng không nhỏ. Đây cũng tạm gọi là công tŕnh văn hóa công giáo.


Chủ quan:
Công tŕnh hoàn thành, chi phí tương đối, không xăy ra điều đáng tiếc, không thiếu nợ là tốt.
Điều đáng mừng hơn cả là sự đoàn kết của giáo dân.
Kết qủa nầy có được là do sự tận tâm nghiên cứu, giám sát khéo léo của những người theo công tŕnh có khả năng và tinh thần v́ công ích.

Họ đạo Cái Mơn không dám quên ơn Đấng Bản Quyền đă quan tâm và khích lệ.
Cha sở Cái mơn, quí cha phụ tá và giáo dân nguyện khắc cốt ghi xương sự đống góp tinh thần và vật chất của các cha gốc Cái mơn. Hai linh mục anh em đă đặc biệt quan tâm đến công tŕnh nầy là Cha Micae Nguyễn văn Sánh và Giuse Lâm quang Bỉ.

 

Chủ trương cấu trúc bên trong tháp chuông.

 

 

Di dời chuông từ gác cũ sang Tháp mới

Lên chuông và giữ không va chạm vào tháp

 

 

 

Đây là khâu quan trọng ai cũng muốn xem.(các d́ cầu nguyện cho công việc an toàn) 

 

 

Thực hiện công tŕnh

 

- Chủ đầu tư: họ đạo Cái Mơn mà ngườI đại diện là Cha sở Giuse Nguyễn ngọc Thích

- Trực tiếp kiểm tra việc thi công từ khởI sự đến hoàn thành : Ông Trùm Carolo Nguyễn văn Lài .

- Quản lư tài chánh: Ông Biện Philipphe Nguyễn QuớI Thành.

- Nghiên cứu đề án, theo dơi kỷ thuật : Ông Phaolo Trương công Thành cùng với những cố vấn Ông Vơ văn Ninh, Ô. Bùi văn Tốn , Ô. Đỗ hiếu Lương, Ô.Phaolo Mai nguyên Song.

- Khoan đất: Pḥng công nghiệp Đại học Cần Thơ  (sâu 30 mét).

- Ép cọc , móng: một đội ở Cần Thơ.

- Đội thi công của kỷ sư Lê ngọc Diễn với số thợ và lao động lấy tại Cái Mơn.

- Đức Giám mục Giacobe Nguyễn văn Mầu đặt viên đá đầu tiên ngày 10 tháng 10 năm 2000.

 

 

- Đức Giám mục Toma Nguyễn văn Tân dâng lễ tạ ơn ngày 22 tháng 8 năm 2001.


 

- Khách có thể tham quan tháp chuông để nh́n khung cảnh chung của xứ Cái Mơn với điều kiện được người của nhà thờ hướng dẫn (mỗi lần lên không qúa 5 người ) .

 

*6 qủa chuông của Cái Mơn có kích thước như sau :

 

- Chuông I cao 1,30m Đường kính 1,40m Nặng 1000 kg
- chuông II cao 1,20m Đường kính o,92m Nặng 900 kg
- chuông III cao 1,00m Đường kính 0,83m Nặng 700 kg
- chuông IV cao 0,90m Đường kính 9,76m Nặng 600 kg
- chuông V cao 0,80m Đường kính 0,70m Nặng 500 kg
- chuông VI cao 0,65m Đường kính 0,60m Nặng 300kg
       

- Trọng lượng tổng cộng là 4000kg.

- Chuông được đúc tại Pháp vào hậu bán thế kỷ XIX tạI một ḷ đúc chuông gia truyền . Chuông được chuyển về hai lần lần đầu 3 chuông nhỏ , lần sau 3 chuông lớn.

- Danh sách các cụ dâng chuông có khắc trên mỗi chuông . Theo đánh gía chuông vẫn c̣n 99% hiện trạng ban đầu.

 

Thứ tự Chuông

Năm

 Ân nhân dâng chuông

     
I 1892  Matthêu Phạm Cử Trực  &  Anna Nguyễn thị Mạch
II 1892  Matthêu Phạm Cử Trực  &  Anna Nguyễn thị Mạch
III 1892  Anna Phạm thị Thinh  & Maria Phạm thị Thỉnh
IV 1893  Joachim et Maria obtulerunt
V  1893  Joseph et Maria obtulerunt
VI 1876  Minh Ghê Miễn  &  Maria Hớn

              

Nhà đúc th́ có cột có đà, tháp chuông cao tầng chỉ đúc đà và cột để treo chuông, th́ chỉ được có mỗi việc là giựt chuông. Ngay từ đầu chúng tôi đă chủ trương phải tận dụng sự hữu ích bên trong tháp.
Nghiên cứu thuyết nhị nguyên (dualisme) để giảI quyết vấn đề : có đối không , khó đối với dễ .

 

1.“ les vases sont faits d’argile, mais c’est grâce à leur vide que l’on peut s’en servir.”
"Duyên thực dĩ vi khí, đương kỳ vô hữu khí chi dụng"
“ dùng đất để làm chén chậu. nhưng cái không ở giửa chén chậu mới là hữu dụng" (v́ nhờ cái không ấy mớI chứa đựng đồ ăn thức uống)

 

2.” Une maison est percée de portes et de fenêtres, et c’est leur vide qui la rend habitable”

-“ Tạo hộ dũ dỉ vi thất, đương kỳ vô, hữu thất chi dụng”

( làm nhà th́ phải chừa cửa, chính cái không ở giửa nhà mới là chổ hữu dụng).

 

3. “ ainsi, l’être produit l’utile , mais c’est le non-être qui le rend efficade”

“ cố hữu chi dỉ vi lợi vô chi di vi dụng “.

( bởi vậy cái có chỉ là công cụ lợi khí, cái không mới là hữu dụng, là chổ cần thiết ).

 

Với lư luận cơ bản thực hiện chủ trương lợi ích bên trong công tŕnh như sau:

Từng trệt, an vị, giếng rửa tội bằng cẩm thạch nguyên khối chạm hoa văn , cao đúng 1 mét và tượng Thánh Giuse bằng cẩm thạch, bổn mạng của các gia trưởng. Kể từ cuối tháng 8 năm đầu của thiên niên kỷ thứ III , mọi người Cái mơn đều được rửa tộI tại pḥng nầy , tầng một trưng bài một số tài liệu về Trương Vĩnh Kư , những tài liệu có liên quan đến tháp chuông .


 

6 chuông trên tháp ứng với lục căn của mỗI người là : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Chuông có tiếng nói đạo đức mà người nghe phảI hồI tâm suy nghĩ.

Đó là :    -"Tôi ca tụng Chúa thật.

                Tôi kêu gọi dân chúng.

                Tôi tập họp giáo sĩ.

                Tôi khóc người qua đời.

                Tôi đẩy lui dịch tể “.

 

Nhân đây ta nghe tiếng nói của chuông vùng Nam Á và Đông Bắc Á lan truyền đến Việt Nam hàng ngàn năm qua:

 

“ Nguỵện tiếng chuông nầy thấu mọi cỏi

“ Nghe rồI thanh tịnh chúng viên thông

“ Nghe chuông nhẹ bớt năo phiền

“ Kẻ nơi địa ngục tránh xa

“ Kẻ nơi hầm lửa thoát ra tu hành….”

 

Qua tŕnh bày trên chúng ta thấy lợi ích của tháp chuông, thật là nơi tôn nghiêm đáng trân trọng. Thế nên tháp chuông không phải là nơi chơi giởn giải trí. Văn học Việt Nam c̣n lưu lại nhiều ư nghĩa của tháp chuông nhất là các bữu tháp qua các câu sau đây :

 

“ Cung kính nơi tháp miếu

“ Khiêm hạ các người tu

“ Xa ĺa tâm tự cao….”

 

Người ta trân trọng bữu tháp v́ bên trong lưu giữ di cốt tiền nhân, các tư liệu qúi gía về nền văn minh kim cổ v. v…

 

***

 

 

 

 Xin tặng quí bạn bài thơ cũa thi sĩ Kiên Giang có nói về gác chuông:

 

HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM

thi sĩ Kiên Giang

(Bến Tre, 14-11-1957)

 

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

 

Mười năm trước, em c̣n đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn ră thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt t́nh thương
Để nghe khe khẻ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi


***

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn ră từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nh́n áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
- Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi c̣n đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đ̣ ngăng cách mấy sông
Anh vẫn yêu người em áo tím
Nên t́nh thơ ủ kín trong ḷng

***

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giử quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng c̣n xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối t́nh thơ

Màu gạch nhà thờ c̣n đỏ thắm
Như t́nh nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím nàng thơ đă nhạt màu
**

Ba năm sau chiếc xe hoa cu?
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết ṿng hoa tang

Anh kết ṿng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết t́nh tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không c̣n đứng nép ở lầu chuông
Nhưng khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

Lạy Chúa! con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời”
Trong ḷng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!!”

Bến Tre, 14-11-1957