|
TRANG SỬ HY SINH Của D̉NG KYTÔ-VUA
SƯ HUYNH MARC LÊ VĂN CHỨC
Quê ở Hạnh Thông Tây vào Ḍng ngày 6-4-1914 và tuyên khấn năm 1929. Năm 1946, Thầy thi hành chức vụ tại một họ nhỏ: Bàu Tre (Tây Ninh). Lúc bấy giờ, những biến cố chính trị xă hội dồn dập đă mang lại cho cuộc sống lẻ loi của Tu sĩ truyền giáo, nơi miền xa xứ lạ, nhiều nổi nguy hiểm không lường được. Phong trào bày ngoại sôi nổi. Thiên Chúa giáo bị gán là đạo của người Pháp. Trong lúc thời cuộc quá đen tối, cha sở đột nhiênphải rời họ, không kịp cho Thầy hay những nỗi khó khăn sắp diễn ra. Cha xứ vừa ra đi, một nhóm người vơ trang đến vây nhà và bắt giam Thầy. Không biết rơ bị câu lưu bao lâu, Thầy được tự do. Hiểu rơ hoàn cảnh, bổn đạo khuyên Thầy nên sớm ẩn lánh. Nhưng thấy một số tân ṭng cần sự hiện diện để giữ vẹn Đức tin, Thầy không nỡ ra đi. Ngày ngày tiếp tục giảng dạy giáo lư, mặc dù biết rơ có kẻ đến ḍ xét tỉ mỉ từng lời Thầy dạy. Không bao lâu, Thầy lại bị quản thúc v́ những lư do vu vơ và cuối cùng bị xử tử. Một nhân chứng cho biết: Thầy bị chôn sống, chân trở lên trời.Hiện nay, nơi yên nghỉ của Thầy cũng chưa t́m ra được! Nguyện xin Chúa rước linh hồn Thầy về nơi đất phước!
SƯ HUYNH VICTOR MAI VĂN TIỀT
Sinh trưởng tại họ đạo Long Kim, tỉnh Long An, Thầy vào Ḍng 22-2-1924 và Khấn tạm ngày 07-3-1938. Sau những ngày hoạt động tông đồ tại các xứ đạo, đầu năm 1947, được lệnh Bề trên, Thầy trở về Tu viện lănh chức vụ Giáo sư. Lối tháng 7-1948, Bề trên nhờ Thầy lên Sàig̣n lo một việc riêng của Tu viện. V́ đường xá lúc bấy giờ rất khó khăn, trong một ngày không thể đi từ Cái Nhum đến Sài G̣n đặng. Đến An Đức , Thầy tới họ ngánh Đông Ḥa, thuộc sở Mỹ Tho, trước là tạm nghỉ qua đêm, sau để ủy lạo những người con thiêng liêng trong những ngày đen tối. Sáng ra, lúc từ biệt lên đường, Thầy không quên khích lệ tất cả phải trung thành với Đức tin Công giáo. Ra đi độ 5 cây số ngàn, Thầy gặp một tốp lính Lê Dương đang hành quân, thấy Thầy xuất hiện từ trong vùng đối phương, chúng bắt đầu nghi ngờ và khám xét hành trang của Thầy. Sau dấy, chúng dă man hạ sát Thầy để đoạt lấy số bạc mà Thầy dùng để làm lộ phí và để lo công việc cho Tu viện. Nghe tin đau buồn ấy, bổn đạo họ nói trên, để tri ân đă xin đem xác Thầy Vitor về an táng. Kề bên giáo đường, nấm mộ đầy rêu cỏ đă nói lên cho bao người sự hy sinh v́ nghĩa vụ của một Thầy giảng.
SƯ HUYNH PASCAL VƠ VĂN VIỆT
Quê ở Rạch Cầu (G̣ Công), vào Ḍng 01-3-1927, Thầy mặc Áo Ḍng ngày 10-3-1934 và Khấn tạm ngày 01-01-1949. Là một trong những Tu sĩ đạo đức nhứt, Thầy rất hăng hái trong lănh vực truyền giáo. Thầy nêu gương hy sinh bằng cách tích cực thực hiện lư tưởng Tông đồ, khiến cho nhiều người cảm phục. Thầy sống khó nghèo, ăn uống kham khổ và phục sức đơn giản. Vào năm 1956, Thầy vâng lời Bề trên đến truyền giáo ở Pháo Đài, một nơi toàn người lương thuộc Rạch Cầu (G̣ Công). Tá túc trong một gia đ́nh nhỏ hẹp, hằng ngày Thầy qui tụ trẻ em trong vùng để giúp đỡ chúng về phương diện trí và đức. Hết giờ dạy, Thầy đến từng nhà viếng thăm và gây thiện cảm. Qua một thời gian khó nhọc, Thầy thấy nhiều người sẳn sàng lănh nhận Lời Chúa. Thầy công ngai truyền bá Phúc âm. Lời lẻ đơn sơ nhưng chân thành của Thầy, khiến một số đông người hy vọng sẻ trở nên Tín hữu Công giáo. Hơn một lần trực tiếp hoặc gián tiếp, người ta muốn đuổi Thầy ra khỏi nơi hoạt động. Nhưng quá say mê trong việc đem chiên lạc về ràng, Thầy vẫn tiếp tục công việc của một mục tử. Sau cùng, bực tức trước kẻ luôn giữ vững lập trường, người ta dùng đến biện pháp cuối cùng. Do những nguồn đáng tin, Thầy bị ám sát trong đêm tối! Xác Thầy được rước về an táng tại họ quê nhà. Chúng ta tin chắc hồn Thầy đă được vui hưởng triều thiên chiến thắng!
SƯ HUYNH BERNARD NGUYỄN TẤN ĐỨC
Sinh tại họ Cái Tắc thuộc sở Cái Mơn, Thầy vào Ḍng ngày 01-7-1941 và mặc tu phục ngày 03-01-1946. Năm 1949, Thầy được Bề trên chỉ định giữ chức giáo viên ở sở Giồng Thủ Bá. Hết sức tận tụy với nhiệm vụ. Thầy được cha sở và anh em trong họ mến thương. Vào năm 1950, thời cuộc ngày càng khó khăn. Tánh mạng và tài sản của bổn đạo hầu như không được bảo đảm. Hơn nửa, sứ mệnh dạy giáo lư cho con em đ̣i buộc người Tu sĩ phải hy sinh nhiều. Xem thường cái chết. Thầy cương quyết ở lại trợ lực với vị Chúa chiên trong những ngày khói lửa, mặc dù Thầy có thể tŕnh bày hoàn cảnh với Bề trên để rút khỏi địa điểm hoạt động. Một buổi chiều ngày Chúa nhật, sau giờ chầu Ḿnh Thánh Chúa, phi cơ hành quân đột nhiên oanh kích giáo đường. Thầy nhanh nhẹn giúp đỡ trẻ em đang hốt hoảng t́m nơi núp bom đạn. Nhưng rủi thay! Thầy bị một viên đạn vô t́nh xuyên qua chân phải. Lập tức, Thầy được đưa đến bệnh viện Bến Tre để điều trị. Vết thương mỗi lúc mổi trầm trọng, Thầy trút hơi thở cuối cùng sau ba ngày sốt sắng dọn ḿnh về cùng Chúa. Xác Thầy yên nghỉ tại nghĩa trang Bến Tre chờ ngày sống lại vinh hiển.
|