Hôn Nhân có phải là sự lựa chọn tốt thứ hai không?

John và Patricia Brewster (Hoa Kỳ)

 

"Không một khía cạnh nào trong đời sống hôn nhân của chúng ta lại không nằm trong tiếng gọi của Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống yêu thương nhau."

 

Cách đây ít lâu, chúng tôi có dịp qua một buổi tối với một số thân hữu, trong đó có cả Richard - một linh mục chuyên giúp tĩnh tâm. Ngài cũng là một kịch sĩ và là một nhà hài hước có tài, đến độ cho Ngài một vai nào, Ngài cũng có thể tự tŕnh diễn ngay một màn thoại.

 

Tối hôm ấy, Richard có vẻ rộn ră khác thường: Đột nhiên, Ngài vào vai một vị hướng dẫn tĩnh tâm hơi khó tính đang tiếp một đôi vợ chồng mới đến tu viện để xin tĩnh tâm. Chúng tôi c̣n nhớ một trong những câu thoại thật quái dị mà Ngài đă nói trong vai đó: "Giáo dân có gia đ́nh như các bạn mà t́m đến chỗ chúng tôi để học hỏi và thực hành tu đức th́ thật là đáng làm gương". Khi Ngài diễn xong màn thoại đó, chúng tôi đă cười đến chảy nước mắt. Một cách nào đó Ngài đă lột tả được rơ ràng những điều mà tất cả chúng ta đều đă nghe hay thậm chí đă nghĩ từ lâu nay rằng hôn nhân là sự lựa chọn thứ hai mà đa số phải chấp nhận để... theo cách hôn nhân chỉ là một ơn gọi thấp hơn.

 

Không cần biết rằng "cao", "thấp" nào phải là hạn từ của Nước Trời, nhiều đôi vợ chồng vẫn ung dung chấp nhận cách nghĩ ấy. Rất tiếc cách nghĩ ấy lại được củng cố bằng nhiều cách.

 

Nhiều sách hạnh các Thánh quen thuộc mà chúng ta đọc thời trẻ đă nhắc đi nhắc lại những câu chuyện đại lược rằng có một người đă có vợ hoặc chồng, nhưng rồi sau một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa nào đó, đă bỏ đi một ḿnh vào tu viện. Vô h́nh chung, những mẩu chuyện như thế đă tuyên truyền rằng hôn nhân là một trở ngại đúng hơn là một con đường để nên thánh. Dường như muốn làm cho cuộc sống của ḿnh trở nên thánh thiện hơn, tốt nhất là hăy thi hành trong đời sống hằng ngày của ḿnh những việc đạo và những việc tôn sùng của các ḍng tu.

 

Những gịng này được viết trùng vào ngày lễ kính Thánh Hét-vi-ga (Hedwig) nữ tu, theo lịch phụng vụ. Có mấy người nhớ rằng vị thánh này vốn là một phụ nữ đă có chồng, là mẹ của bảy người con, suốt đời gắn bó với việc phục vụ người nghèo. Người ta chỉ chú ư đến quăng đời sau này của Ngài trong một cộng đoàn tu viện, khi chồng Ngài đă qua đời. Y như thể đối với Thánh Hétviga "ơn gọi" và linh đạo chỉ bắt đầu khi chồng Ngài qua đời.

 

Ngày nay, nhờ sức tác động của Thánh Thần nơi những phong trào canh tân trong Giáo Hội, chúng ta đă có nhận thức rơ hơn về lời mời gọi đặc biệt mà Đức Giêsu mở ra cho các đôi vợ chồng. Càng ngày chúng ta càng hiểu hơn rằng nếu đă là vợ là chồng, th́ chúng ta sẽ được Chúa mời gọi gặp gỡ Người trước tiên trong và xuyên qua cuộc sống với nhau mỗi ngày. Chính trong cuộc sống vợ chồng với tất cả những thực tại của nó, chúng ta t́m ra đường về quê Trời.

 

Trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu đă nói: "Ở đâu có hai ba người họp lại v́ Danh Ta, th́ có Ta ở giữa". Mặc dù đó là lời hứa cho cả nhân loại, nhưng chúng ta xác tín rằng đây là lời mời gọi đặc biệt dành cho các đôi vợ chồng, v́ lối sống của chúng ta là lối sống hiệp nhất vô cùng độc đáo.

 

Trong hôn nhân của ḿnh, chúng ta được Đức Giêsu mời gọi trở thành "hai người họp lại v́ Danh Ngài". Danh Ngài là v́ nếu không phải là T́nh Yêu. Khi có t́nh yêu giữa vợ chồng th́ có sự hiện diện đích thực của Đức Giêsu giữa vợ chồng ấy. Đức Giêsu có mặt trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng ấy.

 

Đức Giêsu có mặt trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng ấy. Trong hôn nhân, Đức Giêsu mời gọi chúng ta trở thành những con người biết yêu theo nghĩa đầy đủ của Tin Mừng. Ngài mời gọi chúng ta chia sẻ đời sống vô cùng phong phú của Thiên Chúa Ba Ngôi xuyên qua vô số dịp trong đời sống hằng ngày mà ta được mời gọi thể hiện t́nh yêu đối với vợ hay chồng ḿnh. T́nh yêu này không nằm ngoài những chi tiết vụn vặt của đời thường. Nó đi vào trong máu thịt của con người. Chúng ta có thể diễn tả t́nh yêu bằng vô vàn cách, bằng việc chân thành lắng nghe nhau, bằng việc đi chợ, nấu ăn, bằng việc chia sẻ cho nhau ư nghĩ và t́nh cảm, bằng việc cố gắng nhạy cảm hơn với các nhu cầu của vợ hay chồng ḿnh, bằng việc đáp ứng họ, bằng việc đổ rác, bằng việc quan hệ tính dục, bằng việc dành thời giờ cho nhau, nói tóm lại, bằng việc yêu thương theo đủ cách. Không một khía cạnh nào trong đời sống hôn nhân của chúng ta mà không nằm trong tiếng gọi của Đức Giêsu mời gọi chúng ta yêu thương nhau. Và chúng ta sửng sốt khám phá ra rằng ngay trong những cố gắng tầm thường và bé nhỏ của ḿnh, chúng ta đă gặp được bàn tay kỳ diệu, có sức giải phóng, chữa trị và yêu thương của Thiên Chúa - Đấng đang cư ngụ giữa chúng ta.

 

Trong tư cách là một đôi vợ chồng được gọi để trở nên bí tích cho người khác, chúng ta phải cống hiến cho Giáo Hội và cho thế giới ân huệ mà chúng ta đă nhận được từ thực tế đó.

 

 

Qua Hôn Nhân tôi hiểu được T́nh Yêu Thiên Chúa

Ông bà Stephens Gomes (Bangladesh)

 

"Sau khi thành hôn, tôi bắt đầu hiểu được sự hiện diện và t́nh yêu của Thiên Chúa trong đời tôi."

 

Khi thành hôn, tôi khám phá thấy ḿnh đang bước vào một cuộc sống mới với bao nhiêu trách nhiệm và bổn phận. Tôi lại chưa từng dự một khóa chuẩn bị hôn nhân nào. Tôi càng hoảng hơn khi nghĩ đến cuộc sống mới của ḿnh. Tôi đă cầu nguyện và thiếp đi trong bữa tối hôm thành hôn. Dần dần nỗi lo sợ của tôi biến mất. Rồi phải trải qua những khó khăn đủ loại của cuộc sống cứ đổ tới dồn dập. Tôi dần dần học được cách phó thác cho Thiên Chúa và cầu nguyện với Ngài.

 

Tôi thường giúp chồng ḿnh trong những công việc tôn giáo và những phục vụ người nghèo của anh. Nhờ đó tôi đâm ra quan tâm tới các việc tôn giáo và phục vụ người nghèo. Tôi gia nhập Hội Thánh Vinh Sơn và cứ từng nhóm chúng tôi đi thăm các gia đ́nh nghèo, cầu nguyện cho họ khi đau ốm, ủy lạo bệnh nhân ở các bệnh viện, lạc quyên nơi người giàu rồi lại phân phát lại cho người nghèo. V́ thế, có thể nói được rằng sau khi bước vào đời sống hôn nhân, tôi đă dần dần cảm nghiệm được sự hiện diện và t́nh yêu của Thiên Chúa trong đời ḿnh. Cuộc sống thật dễ thương dễ mến.

 

Chồng tôi và tôi vẫn cầu nguyện với nhau mỗi ngày, và việc nầy chúng tôi học được từ ba má chúng tôi. Chúng tôi luôn luôn giữ quan hệ tốt với hàng xóm và họ hàng. Chúng tôi hết sức quan tâm giúp đỡ con cái ḿnh trong việc học tập của chúng.

 

Để chia sẻ gánh nặng tài chánh với chồng, tôi nhận một chân dạy học. Và về chuyện này tôi cũng gặp phải khó khăn v́ tôi không phải là một giáo viên đă qua các trường lớp đào tạo. Bà hiệu trưởng lại cần một giáo viên đă được đào tạo và bà buộc tôi phải thuộc mà học tập. Nhưng tôi không thể đi học được v́ các con tôi c̣n quá nhỏ. vậy mà tôi chỉ nhờ t́nh yêu của Thiên Chúa, điều không thể ấy đă thành có thể, và tôi đă qua cuộc kiểm tra một cách mỹ măn.

 

Được sự huấn luyện của các chuyên gia về đời sống gia đ́nh - gồm hai linh mục và hai nữ tu - chồng tôi và tôi trở thành những nhà cố vấn cho các đôi vợ chồng trẻ. Chúng tôi giúp đỡ cha sở hướng dẫn những thanh niên muốn lập gia đ́nh. Chúng tôi dạy họ biết thực tế của cuộc sống và chia sẻ những kinh nghiệm của ḿnh cho họ. Chúng tôi cố giúp họ hiểu những nhu cầu thể chất, tinh thần cũng như những nhu cầu tâm linh của họ, những trách nhiệm và quyền lợi của họ đối với nhau. Nói chung là chúng tôi giúp họ xây dựng những gia đ́nh vui vẻ, đẹp đẽ và lư tưởng. Ngay tại trường mà tôi làm việc, tôi cũng tích cực giúp giải quyết những khó khăn mà các đồng nghiệp của tôi gặp phải trong cuộc sống của họ.

 

Trước khi lập gia đ́nh, tôi ít quan tâm về tôn giáo. Tôi đi lễ ngày Chúa nhật, một đôi khi cũng cầu nguyện. Và tôi cho như vậy là đă làm đầy đủ các bổn phận tôn giáo. Nhưng kể từ ngày kết hôn, tôi bắt đầu cảm thấy một trách nhiệm mới trong cuộc sống mới của ḿnh.

 

Các khó khăn đă lần lượt xuất hiện trong đời sống gia đ́nh của tôi và tôi chẳng thể nào dàn xếp chúng được. Tôi đă không hề tiên liệu rằng những khó khăn ấy lại xẩy đến nhanh như thế. Tôi không có đủ can đảm và nghị lực để đương đầu với chúng. Sự bất lực hoàn toàn nầy đă dẫn tôi đến với Chúa. Dần dần tôi khám phá được Thiên Chúa và học cách phó thác cho Ngài.

 

Đọc sách tôn giáo và hát những bài hát đạo cũng tạo hứng thú cho tôi rất nhiều. Thời gian nầy tôi có quan hệ với một vài tu sĩ và cũng thấy được hứng khởi để sống một đời sống tốt đẹp.

 

Sau khi thành hôn, tôi bắt đầu hiểu được sự hiện diện và t́nh yêu của Thiên Chúa trong đời ḿnh. Thiên Chúa thúc giục tôi làm một cái ǵ đó cho Người, và cơ hội mà Người tạo ra cho tôi chính là những công tác trong Hội Thánh Vinh Sơn. Hiệp hội này bắt đầu hoạt động ở Tổng Giáo Phận Tejgaro năm 1972 và tôi đă tham gia v́ muốn phục vụ người nghèo. Cùng với các hội viên khác, chúng tôi ân cần thăm viếng các gia đ́nh nghèo và t́m hiểu các nhu cầu của họ. "Thiên Chúa ở với người nghèo", câu nói ấy của Thánh Vinh Sơn đă làm tôi hết sức xúc động. Bằng cách đó chúng tôi bắt đầu làm việc cho vị chủ tốt lành. Tôi thường đọc các sách đạo, và để tạo điều kiện ấy cho người khác, tôi làm luôn công việc bán những sách vở đó. V́ vậy tôi phải có mặt ở nhà thờ trong tất cả các thánh lễ của mỗi ngày Chúa Nhật.

 

Cũng từ đó mà nỗi khao khát về linh đạo đă bắt đầu dâng trào trong tôi. Tôi phấn đấu để tham dự các khóa hội thảo, các kỳ tĩnh tâm và các cuộc hội họp tôn giáo. Tôi tham gia phong trào Canh Tân Đoàn Sủng vào năm 1983. Đến nay, tôi đă tham dự năm kỳ tĩnh tâm trong khuôn khổ của phong trào này do Ngài Frize từ Ấn Độ sang hướng dẫn. Tôi đă ghi khó khăn lớn nhất của ḿnh ra trên một mảnh giấy nhỏ và đă xin Ngài cầu nguyện theo đó. Cần phải thuyết phục được khó khăn nầy cho tôi. Thế mà chỉ dù một người thôi, tôi cũng chẳng có khả năng để tác động: Nhưng - thật lạ lùng, sau ít ngày, tất cả họ đă thay đổi, và như vậy có nghĩa là vấn đề của tôi đă được giải quyết bởi chính Đức Giêsu. Tôi bắt đầu hiểu ra ư nghĩa đích thực của ca ngợi, cầu xin, yêu thương và tha thứ. Tôi nhận ra rằng Chúa đang hiện diện, rằng Người nghe tất cả và đáp ứng tất cả những ư nguyện của chúng ta.

 

Song song với những hoạt động tu đức đó, tôi quyết định sống một đời sống ngay lành. Tôi đă cầu xin Chúa giữa tôi trong một công việc nào đó tôi không bị cám dỗ dính líu đến những của đút lót phi pháp. Chúa nhân lành đă nhận lời cầu xin ấy và Người đặt tôi vào chỗ an toàn nhất cho đến bây giờ: tôi làm ở chi nhánh điện thoại và điện tín.

 

Ngoài bổn phận gia đ́nh và các công tác trong Hội Thánh Vinh Sơn, tôi c̣n tham gia Cộng Đoàn căn bản nữa. Trong khuôn khổ Cộng Đoàn này tôi đă cố gắng hết sức ḿnh trong sự cách là một trưởng nhóm để thúc đẩy các cặp vợ chồng hiệp nhất với nhau hơn, khuyến khích họ dành nhiều sự săn sóc hơn nữa đối với con cái.

 

Thiên Chúa không ngừng ban nghị lực để tôi tŕnh bày sự thật và công bằng. Có nhiều trường hợp bà con lối xóm mời tôi dàn xếp những xích mích của họ theo tinh thần Kitô giáo.

 

Tôi cố gắng thăng tiến đời sống đạo của tất cả mọi người trong gia đ́nh tôi. Tôi tham dự các cuộc tĩnh tâm, hội thảo và những buổi cầu nguyện cùng với vợ và các con ḿnh v́ lợi ích chung của gia đ́nh.

 

Tôi muốn lên Thiên Đàng không chỉ một ḿnh nhưng cùng với vợ con. Cũng v́ thế mà vợ và các con tôi đă hỗ trợ tôi trong mọi hoạt động tôn giáo. Có ai đó đă nói rằng một anh chồng không được phép Thiên Đàng một ḿnh, nhưng phải vào đó với vợ con anh. Chỉ khi nào muốn xuống hỏa ngục th́ mới xuống đó một ḿnh.

 

Tôi cũng tận tâm phụ giúp cha sở. Và mỗi khi có khó khăn nào xẩy ra, tôi kư thác cho Đức Giêsu, rồi không nghĩ về nó nữa. Tôi cố gắng ǵn giữ sự b́nh an trong tâm hồn. Người giải quyết các vấn đề cho tôi chính là Chúa Giêsu. Tôi muốn kể lại một trong những trường hợp đó. Tôi có khả năng phải chuyển công tác từ Dhata đến Khulna. Và tôi nh́n thấy trước những khó khăn cho gia đ́nh cũng như cho chính ḿnh trong việc thuyên chuyển này. V́ thế tôi cầu xin Chúa thu xếp sao cho t́nh huống ấy đừng xẩy ra. Cha đă can thiệp vào sự suy nghĩ của tất cả các thượng cấp của tôi, và họ đă giữ tôi ở lại Dhata.

 

Paul Duy Cái Mơn sưu tầm