|
Đầu năm khai bút : Vũ Thư Hiên.
Mùa Đông 2005
Ông Hưởng rùng ḿnh tỉnh giấc. Rét. Cái ḷ sưởi tự tạo đặt ở giữa nhà tắt từ lúc nào. Trong bóng tối đậm đặc c̣n một điểm sáng mờ nơi cục than cuối cùng đang lụi hẳn. Ông đoán đó là cái chân mễ, cũng là cái cuối cùng, của đôi mễ. Không biết nó là giống gỗ ǵ mà khó cháy đến thế, cái chân mễ nặng chịch ấy? Lúc chiều tối ông châm ḷ cả giờ nó không chịu bén; thế mà khi đă cháy rồi th́ lại đượm lắm, cứ rừng rực rừng rực măi. Bây giờ ông vẫn nhận ra nó, vẫn h́nh dung ra nó, c̣n nguyên h́nh dạng, nơi ánh hồng thoi thóp dưới lớp bụi xốp màu trắng bệch bạc.
Mùa đông năm nay lạnh kinh người. Lâu lắm mới có một tiết đông ghê gớm đến thế. Một màng băng rất mỏng đóng kết trên những bề mặt nước. Đất rắn đanh như được tráng xi măng. Không khí khô rang. Trong nhà nhiệt độ chẳng khác ǵ ngoài trời, đến nỗi vận tất cả quần áo ấm vào rồi mà vẫn run cầm cập. Mọi năm, hai ông bà thường quét lá bàng về để sưởi, chúng được nhét đầy các bồ, các bao tải, chất thành đống trong góc nhà. Than tổ ong đượm thật đấy, nhưng là thứ phải mua theo phiếu, chưa kể mua th́ phải trả tiền. Lá bàng là của trời đất, ai muốn nhặt th́ nhặt, khi cháy lại có mùi đồng nội, dễ chịu hơn hẳn cái mùi hắc hắc khẳn khẳn của than vụn. Năm nay khác, lá bàng rụng hết từ lâu, ông bà Hưởng đă quét hết từ lâu, đă đốt hết từ lâu, vậy mà mùa đông quái ác vẫn chưa chịu qua. Đến lúc đó hết sạch mọi thứ để đốt rồi ông Hưởng mới quyết định chẻ đôi mễ. Để đi đến quyết định đó ông lưỡng lự măi, đắn đo măi, ngần ngừ măi. Bởi cái việc cỏn con ấy đ̣i hỏi ở ông một cái ǵ đó, nhỏ thôi, nhưng giống như một chút ḷng dũng cảm, hay, nói cho đúng, một chút nhẫn tâm. Trong căn nhà nhỏ, những kỷ niệm về mẹ ông, người đàn bà goá tần tảo nuôi con từ thuở c̣n xuân cứ ra đi dần dần, từng thứ một - bắt đầu là cái tủ chè khảm xà cừ, cái sập chân quỳ, cái tràng kỷ, tất cả đều bằng gụ đen bóng, rồi đến bức hoành phi tôn vinh ḍng họ, đôi câu đối thếp vàng với bốn chữ thảo bay bướm “an bần lạc đạo”… của cha ông. Ông nh́n thấy trong những vật vô tri ấy cả phần đời gian nan của hai mẹ con ông. Chúng tuột khỏi tay ông, cái nọ sau cái kia, do hoàn cảnh đưa đẩy, không sao níu kéo được, không cách nào giữ lại được. Đôi mễ c̣n cho đến bây giờ là bởi người mua tấm phản trắc bá kê trên chúng ở xa ngại chở theo, bỏ lại cho ông. “Gỗ mà nặng thế này là thứ tốt lắm đấy, loại ngang tứ thiết chứ chẳng chơi, ông ta bảo, người xưa làm cái ǵ cũng kỹ, bây giờ đào đâu ra những của như thế!”.
Không muốn kinh động bà vợ đang ngủ, ông nhẹ nhàng vén mép chăn, trườn ra ngoài, co ro ngồi lên huơ chân t́m đôi guốc. Đoạn, mặc áo bông vào, quấn khăn len cho kín cổ, cả hai thứ cùng xơ xác như nhau, ông Hưởng len lỏi giữa đám đồ vật tạp nham chen chúc ở gian trong, như một người mù thuộc đường, lần ra sân. Khi cánh cửa sau kêu lên một tiếng kẹt nhẹ, bà Hưởng sực tỉnh, từ trong màn hỏi vọng ra, nghe như một tiếng rên: - Ông làm ǵ mà dậy sớm vậy, ông? Ông không trả lời, chỉ ậm ừ rồi ḍ dẫm bước ra sân. Không khí lạnh tràn vào lồng ngực làm ông tỉnh ngủ. Đứng trước bức tường con kiến ngăn cách với nhà hàng xóm, ông khoan khoái nghe tiếng ḍng nước thải của ḿnh rơi xuống rănh tối. Từ bên kia bức tường, một giọng nói vọng qua: - Cậu dậy rồi đá? Ông nhận ra tiếng cụ Vận, ông lăo hàng xóm. Cùng với tiếng cụ Vận, có tiếng nước lơng bơng rơi xuống nước. Th́ ra cụ cũng mới dậy đi tiểu như ông. - Thưa, dậy rồi. - Lạnh quá thể, phải không cậu? - cụ Vận xuưt xoa. - Dạ, năm nay lạnh lắm. Ông h́nh
dung ra cụ Vận trong cái áo bông to xù, râu tóc bạc như cước, đứng
lom khom, một tay chống vào tường. Khi tiếng nước tiểu thôi rót xuống
rănh, ông nghe tiếng cụ than: - Giờ cứ thế, năm mới không bằng năm đă qua. – ông Hưởng ngáp - Phú quư giật lùi. Cụ Vận nói, sau một lát: - Người có số th́ nước cũng có vận. Cái vận nó thế, biết làm sao? Nghe rơ tiếng cụ thở dài đánh sượt. Xa xa vẳng lại tiếng gà gáy cô độc. - Cụ cũng không ngủ được ạ? - Tôi có tật thức giấc về sáng. Thức rồi nằm đấy, không ngủ lại được. Cứ nghĩ vẩn vơ. - Tuổi già nó thế, khó ngủ lắm. Tôi c̣n kém cụ xa, mà cũng vậy đấy. Dỗ giấc cả giờ đồng hồ mà mắt vẫn chong chong. Nhất là đôi chân, cứ lạnh ngắt. Chân có ấm lên mới ngủ được. Tiếng cụ Vận ngáp to. - Cậu sang tôi, ta làm ấm trà, hử? Sắp sáng bạch rồi. Ông Hưởng ngần ngừ: - Mồng Một đầu năm, cụ không kiêng ư? - Kiêng cái con tườu. Số tôi là số con chó mực, cậu ơi, kiêng làm khỉ ǵ. Sang nhá? Số con chó mực như cụ ai cũng thèm, ông Hưởng nghĩ, cụ cứ việc ngồi đấy mà ăn, mà tĩnh dưỡng, chẳng phải đụng tay đụng chân đến việc ǵ. Người ta đồn, hồi trước bà cụ mở hàng tạp hoá, tích được khối vàng, bây giờ cụ chỉ có việc bán dần mà sống. May mà đến đợt cải tạo tư sản lần thứ nhất cửa hàng của cụ đă không c̣n, chứ không th́ vàng giấu đâu cũng không qua được mắt cán bộ. Cán bộ mà đă vào được nhà ai th́ trở thành ma xó nhà ấy. - Cụ gọi th́ tôi mới dám sang. – ông Hưởng đáp - Chứ tôi ngại. Xông nhà người ta, được không sao, mất lại phải vạ - chỉ tại cái nhà anh xông nhà. Nhiều năm rồi, ngày Mồng Một nào tôi cũng nằm khàn, chẳng đi đến đâu... - Vẽ. Sang đi. Trong phố cổ, mọi nhà giống nhau ở chỗ đều là nhà ống. Chường ra phố là cái mặt tiền hẹp, c̣n nhà th́ hun hút chạy vào trong. Từ ngày thủ đô được giải phóng, phố cổ trở nên đông đúc bởi dân ngụ cư tứ xứ đổ về, dân Sơn Tây, Hà Đông trước, rồi mới đến dân Thanh, Nghệ, c̣n đông hơn. Cụ Vận bảo: “Ngày xưa, Thăng Long là do dân bốn trấn xung quanh đây đổ về mà lập nên, gọi dân tứ chiếng tức là dân tứ trấn đấy. Qua mấy lần tao loạn, dân gốc gác bạt đi hết, giờ rặt loại ngụ cư phát văng, giống Hà Nội thuần chẳng c̣n lại bao nhiêu. Ông không để ư thấy à, tiếng Hà Nội bây giờ cứ vống lên, the thé the thé, nghe đến chướng”. Ông Hưởng cười ruồi gạt đi: “Dào, cụ ơi, mọi sự trên đời có đứng yên một chỗ bao giờ”? Anh cảnh sát khu vực gốc Nghệ An, người lùn tịt, môi thâm, rất chăm đi kiểm tra hộ khẩu, khó chịu với cái lối b́nh phẩm của cụ lắm: “Ăn với chả nói, toàn một giọng phản động. Không nể cái tuổi già th́ choa đă cho va đi cải tạo từ khuya.”
Từ ngày hoà b́nh lập lại, những căn nhà trong con phố cổ vốn chật hẹp lại càng trở nên chật hẹp hơn với số dân cư mới đến, ồn ào, mắn đẻ. Ông con trai cụ Vận từ chiến khu Việt Bắc về mang theo cái bụng báng được ba năm th́ mất. Người vợ anh ta, rất xinh gái, nghe nói dân Thổ, nơn nà c̣n hơn dân thành phố, chưa đoạn tang đă tái giá. Chị lấy một anh quản lư thị trường trai tân, bỏ lại cho cụ Vận đứa cháu gái câm. Căn nhà đông lên được một dạo ấy lại vắng ngắt. Cụ Vận buồn lắm. Cụ bà mất đúng lúc Hiệp định Genève vừa được kư kết, không kịp gặp lại đứa con trai chờ đợi suốt chín năm kháng chiến.
Thấy ngôi nhà vắng
người, phường quận nḥm ngó, một hai điều thêm người đến ở. Cụ Vận một
mực gạt đi: “Tôi không quen ở với người lạ. Tôi chẳng phải tư sản mại
bản, tư sản dân tộc, tư sản nhà cửa ǵ ráo, các ông có muốn cũng chẳng
đưa tôi vào diện cải tạo được. Có một mụn con, tôi hiến cho kháng
chiến. Đấy, c̣n cái huân chương kháng chiến hạng hai với bằng khen
giấy khen, tôi treo đấy, trong gian thờ nó, các ông có gỡ đi cho đứa
khác đến ở th́ gỡ”.
Nhưng cụ Vận cứng là cứng ngoài miệng thế thôi, chứ cụ cũng là người biết điều. Hơn ai hết cụ hiểu rằng tuy dân th́ phải gian, nếu không đă chẳng có chữ “dân gian”, nhưng gian th́ phải ngoan, nếu không đă chẳng có chữ “gian ngoan”, và phải thuộc câu cửa miệng thời bây giờ: “đừng có đùa với chính quyền”, “đùa với chính quyền chỉ có từ chết đến bị thương”. Mấy người không giữ được những điều bức bối trong ḷng, mượn rượu nói càn, giờ vất vưởng trong các trại, báo hại gia đ́nh phải đi tiếp tế năm này qua năm khác.
Thế là cụ nghĩ mưu. Đúng lúc ngôi nhà của cụ bị trên chú ư nhiều nhất, chính quyền một hai ép cụ nhận thêm người, th́ cụ tục huyền. Không biết nhà giai nhà gái thoả thuận ra sao mà bà bán xôi chè ở cuối phố dọn đến, ở hẳn với cụ, không phải ở thuê, mà như vợ chồng, nhưng lại không cưới xin ǵ sất. Cục diện thay đổi - nhà một tầng, bốn pḥng th́ nay có ba người, dàn ra mỗi người ở một pḥng, một pḥng vừa là pḥng khách, vừa là nhà kho, vừa làm nơi thờ phụng. Vẫn rộng đấy, nhưng đối với nhà riêng không thuộc diện nhà nước quản lư, th́ người ta cũng không có nhiều lư để mà gây sự. Phường quận coi việc cụ Vận lấy vợ là sự đối phó với chính quyền, giận lắm: “Không giá thú, chưa được chính quyền công nhận, mà ngang nhiên ăn ngủ với nhau là láo, là trái đạo đức cách mạng, là hủ hoá, cách mạng không thể làm ngơ”. Nhưng mấy ông cán bộ phường quận chỉ dậm doạ từ xa, dậm doạ gọi là, thế thôi, chứ chưa ai đến nhà nói thẳng điều đó ra với cụ. Cụ Vận không kém, cụ vận lư của cụ ra đáp lại, cũng theo cách bắn tiếng: “Nhà của tôi, tôi cho ai ở là quyền của tôi. Mặc cái lũ thối mồm muốn nói ǵ th́ nói. Bảo bà ấy là người tôi cho ở nhờ cũng được. Bảo bà ấy ăn ở với tôi như vợ chồng cũng xong. Tôi là tôi chấp hết”. Thiên hạ cười hi hí: giời ạ, cụ Vận thiếu một năm lên đầu tám, bà xôi chè đầu sáu có dư, ngủ nghê cái nỗi ǵ? Anh công an khu vực bắn tin cho cụ Vận: “Choa mà túm được quả tớm trai trên gái dưới là choa cho ra đồn ngay tắp lự; đừng tưởng qua mặt được choa: cái giống đàn ông cắt đầu gối không c̣n giọt máu nào mới hết sạch cái khoản ấy”.
Bà xôi chè cũng đă dậy, chắc hẳn bị cuộc đối thoại ở hai bên bức tường đánh thức. Ông Hưởng bước vào nhà, cao giọng vui vẻ: - Chúc cụ với cô năm mới phát tài phát lộc bằng năm bằng mười năm ngoái! Bà xôi chè chắp hai tay chúc lại: - Chúng tôi cũng xin chúc lại cậu năm mới được vạn sự như ư!
Ông Hưởng không bao giờ gọi hai người hàng xóm là hai cụ. Cụ và cô, phân biệt, rơ ràng. Bà xôi chè có tên con gái là Thanh, cô Thanh, cả phố gọi thế, tên ấy không thay đổi v́ cô chẳng bao giờ có chồng. Thảng hoặc cũng có người gọi bằng bà, là căn cứ ở tuổi cao, mà cũng chỉ dân ngụ cư mới tới gọi thế, người gốc phố cổ th́ không. Bà Thanh xấp xỉ một trà với ông, tức là thuộc lứa tuổi con cháu cụ Vận. Cụ Vận gọi ông bằng “cậu”, cụ biết ông Hưởng từ thuở nằm nôi. Bà Thanh khác, chữ “cậu” của bà kính cẩn, cách gọi của đám b́nh dân đối với con nhà gia thế - chẳng ǵ cụ thân sinh ra ông cũng là một ông phán toà sứ, mặc dầu bây giờ ông Hưởng chỉ là tổ phó một tổ thợ may.
Nghề xôi chè của bà Thanh là nghề gia truyền, truyền từ thế hệ nào th́ chính bà cũng không biết. Gánh chè của mẹ bà nổi tiếng trong những phố cổ với đủ thứ chè - đỗ xanh, đỗ đen, đỗ đăi, chè con ong, chè hoa cau, bánh trôi, bánh chay …, thứ ǵ cũng không chê vào đâu được. Hai mẹ con ở thuê trong một cái chái hẹp, ra đụng vào chạm, vừa là nơi ở, vừa là xưởng sản xuất. Bà Thanh xấu gái, rỗ chằng rỗ chịt, tuy cũng không đến nỗi ma chê quỷ hờn, vẫn c̣n là gái tân cho đến khi về ở với cụ Vận. Từ cái chái thuê đến một pḥng trong nhà người đàn ông già dễ tính là một sự đổi đời. Nói cho công bằng, bà phải nhờ ơn cách mạng, không có cách mạng thúc ép, chắc ǵ cụ Vận đă chịu như thế. Nhưng chịu rồi cụ Vận lại thấy nó hay hay, lại thấy làm như thế là phải, là tốt, là hợp lư, và trong trường hợp này cụ cũng là người chịu ơn cách mạng nốt.
Thực ra, cụ Vận cũng không có mâu thuẫn ǵ với cách mạng. Cụ chỉ
không thích nó mà thôi.
Cụ nói và nghĩ tới kiếp người cực nhọc của bà Thanh mà thương bà. Ở thời buổi cái ǵ cũng thiếu, tưởng đáp lại cái thiếu, làm cho cái thiếu mất đi, th́ được hoan nghênh, hoá không phải. Cái ǵ tư nhân cũng bị coi là xấu, cái ǵ tư nhân làm cũng bị cấm. Cán bộ bảo: “Đấy là mảnh đất hằng ngày hằng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản”. Nhà nước bắt tất tần tật người hành nghề kinh doanh, dịch vụ, nhất nhất phải vào các tổ, các đội, hoặc các hợp tác xă cho bằng hết. Trước ở phố cổ của bà có ba ông thợ cắt tóc, hai ông mở hiệu hẳn hoi, một ông cắt trong ngơ, cửa hiệu là một tấm bạt sáng căng ra tối cuộn vào; nay ba ông làm thành một tổ, chỉ một cửa hiệu thôi. Ông hàng phở vào tổ hợp phở ở phố bên. Nghề xôi chè của bà Thanh không có người thứ hai, thành thử không có tổ hợp nào mà vào. Đă thế, lại là nghề sản xuất ra hàng hoá “chế biến từ lương thực”, cho nên chính quyền cấm luôn, bà muốn đổi sang nghề nào mặc bà, không phải việc của chính quyền. Những ông hàng phở, những bà bún thang, bún ốc có tay nghề cao, có tiếng tăm, cho con cháu vào tổ hợp, những cửa hàng khang trang nhưng vắng khách. Vắng khách th́ thu nhập kém, có nhà c̣n lâm vào cảnh thiếu thốn. Đói ăn vụng, túng làm liều, họ bèn mở hàng chui, ở trên gác xép, ở trong buồng nhà sau, đóng kín cửa. Biết có người làm ăn theo cách ấy bà Thanh toan bắt chước, nhưng không xong. Anh cán bộ quản lư thị trường khu 5 tập kết rất nghiêm trong việc chấp hành chính sách quản lư lương thực, không chịu ăn hối lộ, hoặc, như có người nói, bà đưa hối lộ quá ít, kiên quyết không cho bà được hành nghề nữa. Mấy lần bắt, mấy lần thu, bà hết cả vốn lẫn lăi, đành bỏ gánh xôi chè, nhập vào tổ đan len. Đó là nghề duy nhất dành cho đàn bà thành phố. Không biết nước bạn nào đặt hàng nhiều thế, mà khắp hang cùng ngơ hẻm, chỗ nào cũng thấy đàn bà con gái hai tay múa thoăn thoắt bên cạnh những cuộn len đủ các màu.
Ấm nước trên ḷ đốt bằng than tổ ong bắt đầu reo.
Cụ Vận pha trà trong cái ấm đất gan gà đă sứt ṿi. Nó già không kém ǵ cụ, ở với cụ đă lâu, có lẽ v́ thế mà cụ không nỡ vứt đi. Vả lại, cụ bảo: cái ấm vậy đấy mà c̣n dùng được chán, rót có ư th́ một giọt cũng không sánh ra ngoài, ấm cũ , ăn tinh trà đă no, thành ấm bám rặt cao trà, nó mới không hút mất hương, nước trà mới đượm, mới ngon; ấm mới không sánh được.
- Kính cụ.
Ông cụ đưa cho ông Hưởng, bằng hai tay, chén trà đặt trên đĩa, cùng bộ đối ẩm với cái ấm già. Ông Hưởng đón chén trà, cũng bằng hai tay, và nghĩ: tài thật, sao bằng ấy năm mà cụ Vận chẳng làm vỡ cái chén nào? Lại nghĩ: không biết cụ Vận có c̣n làm t́nh được với cô Thanh không?
Cụ Vận vừa nhấm nháp ngụm trà vừa nghiêng đầu nghe ngóng: - Quái, năm nay vẫn cấm pháo hay sao mà tịnh không thấy tiếng nào? - Vưỡn cấm đấy, cụ ạ. – bà Thanh ngồi bên cụ, nhưng không được cụ mời trà, chen vào – Lúc giao thừa có đ́ đẹt mấy cái, chắc lũ trẻ nhà nào nghịch ngợm đốt đấy, cơ mà cụ ngủ say, không nghe. Ông Hưởng thở dài, nhớ đến những cái Tết đă xa: - Tết mà không có pháo th́ c̣n ǵ là Tết. Cụ nhớ không, ngày xưa ở phố ta Tết đến là vỉa hè ngập xác pháo toàn hồng? Cụ Vận thần người ra: - Nhớ chứ. Dưng mà nghĩ đi nghĩ lại, người ta cấm đốt pháo cũng có phần đúng - đă tốn tiền th́ chớ, trẻ con nghịch tinh ném vào nhau, khối đứa mù mắt… - Tôi lại nghĩ: không phải cái đúng nào cũng tốt. – ông Hưởng nói – Có những cái đúng chẳng được tích sự ǵ cho chúng ta cả. Chẳng hạn như cái sự người ta điều người đến ở nhà chúng ta ấy. Có vẻ đúng lắm chứ. Nhưng thực sự là thế nào? Người cần chỗ ở đút lót cho bọn nhà đất, bọn này lùng sục kiếm nhà nào c̣n rộng th́ đưa họ vào để ăn tiền. Tôi nhân danh cách mạng kiếm chỗ ở cho dân, tôi san bằng mọi bất công. Đúng quá đi chứ. Đám ở thuê, tôi biết, họ tính chán ra rồi. Đút mất một mớ, to thật đấy, bù lại được thuê giá rẻ theo đúng giá nhà nước, mặc cho chủ nhà thu tiền không bù được tiền sửa chữa. Đến lúc ấy có quỳ xuống mà xin dâng nhà nước, nhà nước cũng không nhận… Đám ở thuê là cán bộ cả đấy. Họ mới biết cửa để chạy, chứ dân thường th́ đừng ḥng. Cán bộ khôn lắm. Xếp hàng để chờ được phân căn hộ trong những nhà hộp mới xây ở ngoại ô ư? Không đâu, họ chẳng muốn - vừa xa vừa bất tiện, mới đến ở đă phải sửa chữa, khi hỏng nước, khi hỏng điện. Đàng này nhà ḿnh cổ, không xí xổm xí bệt ǵ hết, nhưng ở ngay trung tâm, đi làm đạp ba nhát là đến sở, đỡ vất vả, lại đỡ cả cái khoản vá xăm lốp, chữa xe… Họ tính chán ra rồi.
Ông Hưởng nói một thôi một hồi. Cụ Vận chăm chú nghe. - Cái ấy đúng thế thật. Tôi tưởng bên cậu yên rồi chứ? Không phải sao? Ông Hưởng thừ người ra. - Chưa. Đă yên đâu. Cụ Vận gật gù: - Cho người vào th́ hai cháu đi bộ đội về sẽ ở đâu? Rồi chúng nó c̣n lấy vợ đẻ con nữa chứ. Ông Hưởng thở dài: - Người ta
bảo chỉ ở tạm thôi, mai kia các cháu về rồi tính. Nhưng tôi biết
thừa tạm là thế nào. Đến khi họ ở yên rồi, chạy Công an được hộ khẩu
riêng rồi, th́ có mà đuổi được khối. Một tấc không đi, một li không
rời. Bám thắt lưng chủ nhà mà ở. Tiếng bà Thanh ở trong nhà vọng ra: Cụ Vận thở dài: - Nó lớn phổng, mà chẳng có khôn. Tội nghiệp cháu tôi… Ông Hưởng an ủi: - Dào, lo
trước sao được. Đến đâu hay đến đó. Cháu không dở người, hiểu hết cả
đấy… Lại tốt bụng nữa. Hôm nọ thấy nhà tôi quét ở cửa, cháu liền cầm
chổi ra quét đỡ, ngoan lắm. - Hiểu th́ nó hiểu. Chẳng biết rồi có nói được không? - Y học ngày một tiến bộ. Nghiệp dĩ nó thế th́ chịu vậy, biết đâu mai này lại chẳng chữa được. Bệnh quỷ có thuốc tiên. - Cậu uống đi kẻo nguội. Sáng nào tôi cũng uống trà thanh tâm thế này đấy, tốt lắm, không bệnh tật ǵ cả. Chứ già mà bệnh tật th́ c̣n khổ nữa. Ông Hưởng gật gù: - Sức khoẻ, thưa cụ, là thứ nhất. Ta c̣n có ǵ ngoài nó? - Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi c̣n nghĩ: cháu nó không nói được mà lại có mặt hay. Không ai biết được nó nghĩ ǵ. Nói nhiều th́ mất lập trường nhiều. - Đúng vậy. Hoạ giai do khẩu xuất, các cụ đă dặn. Ông Hưởng cười ngậm ngùi.
Bà Thanh bưng bánh chưng ra. Tết dù thế nào cũng vẫn là Tết. Khu phố tổ chức gói bánh tập thể, mỗi nhà đóng tiền mua một hai cặp, tuỳ theo số nhân khẩu, phải góp phiếu lương thực, phiếu thịt. Lại thêm một gói mứt thập cẩm, to nhỏ khác nhau, bán theo b́a gia đ́nh. Cũng theo b́a gia đ́nh mỗi nhà c̣n được mua một chai rượu chanh, một chai rượu cà phê, cả hai đều là rượu khai vị, không cắt phiếu.
Mùi hương lan toả khắp pḥng. Lác đác vẳng tới mấy tiếng pháo tét lẹt đẹt. Ông Hưởng đứng lên, chắp hai tay lễ phép: - Xin cụ và cô tự nhiên thưởng xuân. Tôi xin vô phép. Nhà tôi chắc cũng đă dậy. - Vội ǵ, ngồi đây làm miếng bánh với chúng tôi đă… Ông Hưởng xua tay: - Tính hôm nay sang xin cụ một chữ đầu năm khai bút, hoá ra lại sang sớm quá. Tôi đă mua sẵn một tờ giấy điều, lớn hơn tờ năm ngoái. - Th́ cứ ngồi xuống đă nào. - cụ Vận nói – Năm nay cậu muốn chữ ǵ đây? - Tuỳ cụ cho chữ ǵ cũng được. Năm ngoái cụ cho chữ Tâm..
Đứa cháu gái cụ Vận mặt mũi sáng sủa, mắt trong veo, nũng nịu tựa vào người ông ngoại. Nếu không bị câm, con Thái là một đứa bé hoàn hảo. Mẹ nó chẳng nḥm nhơ ǵ đến nó, từ lúc lẫm chẫm biết đi, nó chỉ biết ông ngoại, cũng chẳng cảm thấy thiếu mẹ. Cụ Vận âu yếm vuốt tóc cháu: - Thanh tâm an lạc, hừm, c̣n năm nay th́ chữ ǵ nhỉ? Cụ ra chiều suy nghĩ. Ông Hưởng chờ đợi nh́n cụ. - Để tôi nghĩ xem. - cụ Vận nói. - Vậy xin cụ, tôi về lấy tờ giấy điều tôi đă trữ sẵn. Rồi xin phép cụ cho nhà tôi cùng sang, luôn thể chúc Tết cụ với cô và cháu Thái. Cụ Vận vuốt râu: - Vậy mà hay. Bảo bà ấy sang đây ăn bữa đầu năm cùng với chúng tôi, hai nhà ăn Tết chung đi. Gọi là Tết tập thể, hay là liên hoan đầu năm, cũng thế. Nhân tiện cậu xem cụ nhà c̣n để lại thoi mực nào không? Thoi mực của tôi, cái thoi chữ Vạn ấy, tốt ơi là tốt, tức quá, chuột tha mất rồi… - Chết thật! – ông Hưởng kêu lên. - Chuột đói mà. Trong mực Tàu thể nào người ta cũng phải trộn một ít ngưu b́, không có nó không xong, chuột tưởng ăn được mới tha đi… Ông Hưởng buồn bă: - Không biết ở nhà tôi c̣n không? Nếu không th́ giờ này đào đâu ra? Ông quầy quả trở về.
Từ trên ban thờ nghi ngút hương, cụ thân sinh ông trong áo vét, cà vạt, hiền từ nh́n xuống. Bức ảnh bán thân ấy có từ thời cụ c̣n sống, là bức ảnh cụ ưng ư, theo lời mẹ ông kể lại. Ông không có bao nhiêu kỷ niệm về người cha mất sớm. Trong trí nhớ của ông lờ mờ bóng dáng một người đàn ông đẹp trai hào hoa, với mùi khói thuốc Camel, mùi nước hoa oải hương ông dùng sau khi cạo râu. Chỉ có cụ Vận biết ông là người có Hán học. Thời thế đổi thay, ông đi học chữ quốc ngữ, học tiếng Pháp, để trở thành một ông phán. Bên cạnh ông, bà phán với gương mặt hiền lành, cam chịu, giống một người ở hơn một bà vợ. Bà Hưởng, quần áo chỉnh tề, cũng đă bóc bánh chưng. Ông Hưởng bảo: - Cụ Vận mời sang ăn Tết chung bữa sáng. Bà mang đĩa bánh sang góp. Bà ngần ngừ: - Không ăn hết th́ mang về à? Ông thắp hương cho các cụ đă. Ông nói: - Bà thắp rồi. Coi như bà thắp cả cho tôi. Thắp nữa khói mù, ích ǵ. Cứ thế này đă ngạt thở rồi. - Ông đừng báng bổ, ngày Tết ngày nhất…
Ông nh́n lên ban thờ, nghĩ đến cái ngày ảnh ông cũng sẽ ở trên ấy. Rồi nghĩ đến hai đứa con. Ba năm rồi chúng không có nhà, thỉnh thoảng mới gửi về một bức thư ngắn ngủi, với nội dung giống nhau, báo tin chúng vẫn mạnh khoẻ, lập được nhiều thành tích. Nghĩ thêm nữa, th́ lại đến cái câu: “Các anh ấy đi chiến đấu, cũng là v́ đồng bào; giờ có một số gia đ́nh cán bộ thiếu chỗ ở, chúng tôi tính để họ đến ở tạm nhà ta, diện tích c̣n rộng…”.
Ông biết bà hay khóc thầm. Nhưng ông vụng, ông chẳng biết an ủi bà cách nào. Thời chiến, chúng nó thanh niên rồi, chẳng đi cũng chẳng được. Cũng có đứa trốn đấy, nhưng trốn rồi cũng bị bắt lại. Thời hộ khẩu, ai người ta dám chứa? Bà hay thắp hương khấn vái, cầu cho hai đứa con tránh được mũi tên ḥn đạn, lành lặn trở về với bà. Bà c̣n cầu xin cho chúng đừng bắn phải mấy đứa anh con bác chúng ở phía bên kia, chắc chắn mấy đứa cũng phải đi lính như chúng. Người anh duy nhất của bà đă đi Nam vào cuối năm 1954, cùng với vợ con. Ông Hưởng hấm hứ: “Thế c̣n chúng nó bắn vào người khác th́ được à?”. Bà nín lặng.
Ông tin ở số mệnh. Nếu số chúng nó tốt, chúng nó sẽ trở về. Lại nhớ đến ông con trai cụ Vận, ông này vui tính ra phết, kể về những ngày ở bộ đội, về kinh nghiệm chiến đấu, cứ tưng tửng: “Đứa nào sợ chết thường lại dễ chết, chú ạ. Ra trận là cứ phải tâm niệm: ta đi, địch chưa chắc đă thấy; thấy chưa chắc đă bắn; bắn chưa chắc đă trúng; trúng chưa chắc đă chết!”. Ông hay kể lại những trận đánh tưởng chừng chết mười mươi, vậy mà vẫn sống nhăn. Ông không chết v́ đạn, mà chết v́ cái bụng báng. Ông mở hộp bích quy trên ban thờ. Trong hộp có vài kỷ vật của cha ông mà mẹ ông giữ lại. Ông nhớ trong đó có một thoi mực Tàu. Quả nhiên, nó c̣n đó. Ông không nhớ bố ông có lần nào dùng đến thỏi mực này, nhưng trong nhà ông vẫn c̣n những chữ thảo cụ viết khi c̣n trẻ. Nét bút phóng túng, ngang tàng, tài hoa.
Khi ông bà Hưởng mang giấy mực sang th́ cụ Vận đang h́ hục nâng cái
chạn để lấy ra cái nghiên đá kê dưới một chân bị mọt. Mặt cụ lầm lầm.
Bà Thanh cùng làm với cụ, vẻ biết lỗi. Trong bếp có tiếng xèo xèo.
Bóng cái Thái thấp thoáng trong ấy. Bà Thanh giải thích:
Không ai được giận dữ trong ngày đầu năm, ngày đầu năm chỉ được phép
vui, lệ là thế, nên thấy ông bà Hưởng sang, cụ Vận chắp hai tay xá một
cái, khi nghe bà Hưởng chúc năm mới. Rồi xin vô phép cả nhà, cụ mài
mực để viết ngay cái chữ đầu năm tặng ông Hưởng.
Cả nhà bỏ mâm, vây quanh cụ Vận.
Tờ giấy được trải ngay ngắn trên nền nhà. Ông Hưởng ngồi xổm bên cạnh cụ Vận, chăm chú theo dơi từng động tác của cụ. Cụ Vận nghiêm trang, chân chống chân quỳ trước tờ giấy đỏ tươi, ?một lượt đường nào nét nào cây bút sẽ đi trên đó.
Cụ Vận thận trọng chấm đầu bút lông vào nghiên mực, giậm một nhát bên ŕa nó cho mực đi bớt, tay trái khẽ vén ống tay áo phải lên, một cử chỉ nhẹ nhàng không làm phân tán ư nghĩ đang tập trung trong ánh mắt. Rồi, bất th́nh ĺnh, cụ phóng tay đặt bút xuống trang giấy, đưa một đường quả quyết, đầy sức mạnh, tưởng chừng không thể có ở tuổi già.
- Năm mới, tôi tặng cậu một chữ này - chữ Nhẫn.
Ông Hưởng cảm thấy mồ hôi toát ra trên mặt. Nét bút của cụ Vận bay bướm quá, phóng túng quá, mà hào sảng quá! Bỗng ông giật ḿnh. Ở bên phải chữ Nhẫn, nét xổ bỗng nhoè ra ở một chỗ. Th́ ra đó là giọt nước mắt của cụ Vận vừa rơi xuống tờ giấy.
|