LINH MỤC VÀ CÁC CUỘC CHIẾN CỦA M̀NH
Từ rất sớm, tôi cảm thấy bị lôi cuốn về Thiên Chúa và đồng loại. Có lẽ ví tôi có quả tim dễ bị tổn thương hơn những người khác, dễ cảm nhận chiều kích sâu xa của sự vật và những thực tại vô h́nh. Cảm nghiệm nầy bộc lộ rỏ nhất khi tôi nghe đọc Tin Mừng và một số lời đă đi thẳng vào tim tôi không bao giờ quên được. Mỗi người có thể nhớ lại trong kư ức những bản văn ḿnh ưa thích luôn đi kèm với ḿnh. Về các điều đó, tôi thật chẳng có công trạng ǵ. Đơn giản là tôi nhớ ơn những người nam nữ đă giúp tôi bảo tồn cảm nghiệm đó và ân cần săn sóc tôi, đó là cha mẹ, bạn hữu, thầy dạy và những người mà tôi bất ngờ gặp trong đời. Dù vậy, tôi tin chắc ơn gọi của tôi không đến từ họ mà từ xa hơn, từ một người khác. Và Giáo hội đă nhận ơn gọi đó là trung thực và công nhận qua việc phong chức Linh mục.
SAY MÊ ĐỨC KITÔ Quả thật Đức Kitô đă nh́n nhận đến tôi và tôi đă theo Người: tôi có thể nói được là Ngài đă đánh động tôi tận đáy ḷng và vết thương ḷng này không bao giờ chữa lành được. Tôi bị lôi cuốn đến bên Ngài, tôi luôn thấy lời nói, hành động, cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài trước mắt tôi. Sở dĩ tôi gắn bó với người nghèo, trẻ con, người bệnh tật, hèn yếu là v́ trong tiếng kêu cứu của họ, thường bị khoả lấp, tôi nghe tiếng gọi của Đức Kitô. Có khi ḷng tôi trở nên chai đá, nhưng không bao giờ tôi nghỉ yên được nếu tôi không đáp lại những lời đó. Niềm say mê đối với Đức Kitô và v́ Đức Kitô, tôi cảm nghiệm nó mănh liệt nhất khi tôi cử hành Thánh lễ, nhất là ngày Chúa nhật ở nơi Giáo xứ. Cho dù, việc phụng vụ ở các giáo xứ mà tôi lui tới thật nghèo nàn và cộng đoàn không đông đảo nhưng chính đó là biến cố ở Emmaus được tái diễn. Qua Kinh Thánh, tôi giải thích cho họ tất cả điều chúng ta đang thực hiện liên quan đến Đức Kitô và v́ họ mà tôi bẻ bánh Thánh Thể. Tôi cũng dành thời giờ cho việc tôn thờ Thánh Thể, để cho mầu nhiệm Thánh lễ ăn sâu vào tâm hồn, theo khía cạnh chủ quan, với sự sốt sắng nồng nhiệt hơn lúc tôi làm chủ sự, v́ lúc đó tâm trí tôi quá chăm chú vào điều điều nói phải nói phải làm. Với tư cách là Linh mục, tôi cảm nghiệm ḿnh là “Cha”, nhận bảo tồn một lời ban sự sống, nhưng tôi không phải là nguồn mạch của lời đó mà chỉ là dụng cụ, là máng thông ơn. Chính thánh Inhatiô thành Antiôkia đă nói điều đó. “Giám mục và linh mục là h́nh ảnh của Cha trên trời”. Và không phải do có triệu chứng xấu về t́nh phụ tử mà ta ngần ngại đảm nhiệm trách vụ thiết yếu này trong tác vụ chúng ta. Phải chăng thánh Phaolô đă chẳng viết như thế này sao: “Anh em có hàng ngàn thầy dạy trong Đức kitô, nhưng lại không có nhiều Cha, v́ chính tôi, tôi nhờ Tin Mừng mà đă sinh ra anh em trong Đức Giêsu Kitô? Điều làm tôi vui mừng là có thể sinh ra những tín hữu, ban cho sự sống. Phần khác, đó chính là ư nghĩa của sự độc thân là làm cho ta nên cha mẹ của đàn con đông đảo.
SAY MÊ GIÁO HỘI Ai gắn bó với Đức Kitô th́ rất yếu phải cảm nghiệm niềm say mê đối với Giáo Hội. Ai yêu Đầu th́ cũng yêu mến chi thể. Dù có yếu đuối, liều lĩnh, nguội lạnh, tội lỗi Giáo Hội vẫn luôn là Thân Thể của Chúa, là Đền thờ Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, càng lớn tuổi, tôi càng gắn bó với Giáo Hội, và càng nh́n tôi càng yêu mến hơn, bằng một mối t́nh tế nhị hơn, giống ḷng ưu ái nối kết đôi vợ chồng già, biết rỏ hết mọi tật xấu cũng như tài đức của nhau. Chắc anh em đă lưu ư, lúc về già, thánh Phaolô càng thương nhiều hơn dịu dàng hơn đối với Giáo Hội mà Ngài gọi là: “Hiền Thê rực rỡ, không vết nhơ, không nhăn nheo, thánh thiện và tinh tuyền”. Dù đúng hay sai, đôi khi tôi phê b́nh Giáo hội, nhưng mỗi lần như thế, tôi lại nhận ra rằng tôi đă lănh nhận tất cả từ Giáo hội: Kinh Thánh, các Bí Tích và trách nhiệm mục vụ. và cũng chính từ Giáo hội mà tôi đă nhận lănh anh em tôi trong chức tư tế, tất các các Linh mục của tôi. Linh mục đoàn, chung quanh tôi, từ đâu mà có? Là một quà tặng của Thiên Chúa và Giáo Hội. Rồi chính các tín hữu, chính từ tay của Giáo hội mà tôi nhận lănh họ. Chính họ là một phần nhỏ của dân Thiên Chúa mà tôi có thể phục vụ trong Chúa. Nếu không có Giáo Hội, tôi không là ǵ cả. Cuối cùng sự tín nhiệm anh em dành cho tôi cũng đến từ Giáo Hội. Khi c̣n trẻ, bệnh nhân, những người bị thử thách, người nghèo, người bất hạnh, thất vọng, lo âu chạy đến cùng tôi. Phần tôi, tôi quá yếu đuối và tội lỗi để thừa hưởng một sự tin tưởng quá lớn khiến mọi người tiếp tục đến cùng tôi.
NIỀM VUI CỦA VIỆC CẦU NGUYỆN. Một niềm vui khác bên trong tâm hồn đó là cầu nguyện và tĩnh tâm ngay buổi chiều sau một ngày đầy những thăng trầm, khó khăn, khi mà ta chỉ c̣n một điều để xin Chúa: là theo ta đi ngủ. V́ chúng ta quá mệt mơi và theo một từ ngữ Kinh Thánh, ta giống như con vật thồ hàng trước chủ nó.Tôi thường nhớ lại người giao sữa thời tôi c̣n thơ ấu, đi đến bán sữa ở nhà tôi với một con lừa kéo xe. Và khi ông này nói chuyện với mẹ tôi, tôi thấy con lừa đứng đợi hết sức kiên nhẫn, đôi khi dưới mưa gió và không chút bực ḿnh tiếp tục lên đường khi ông chủ trở ra. Ngay khi chúng ta mệt và căm lặng như con vật trước mặt Thiên Chúa, đó là nguồn giải khát được ở trước nhan Ngài. Sau một ngày nóng bức. Đôi khi trước khi ngủ, tôi nói: “Lạy Chúa, Giáo phận này của ai vậy? của Chúa chứ ǵ? Vậy Chúa hăy chăm sóc đêm nay đi, sáng may con sẽ thay ca”. Hơn nữa, khi tôi cầu nguyện, thân xác tôi được giải toả khỏi một vài vướng mắc và tâm hồn được thư giăn theo lời tụng nguyện. Điều này đặc biệt đúng khi tôi cầu nguyện qua thánh vịnh. Khi tôi cảm thấy buồn bực, chán nản, thánh vịnh ca ngợi của Ngài trong sách phụng vụ giờ kinh nhắc tôi phải nói thay cho hàng triệu người khác, đang vui mừng và hạnh phúc trong ngày hôm nay, Ngược lại, một thánh vịnh kêu vang khẩn cầu được xướng lên trong ngày nắng sáng nhắc tôi ư thức được những thống khổ và đau thương khắp nơi trên thế giới. Kinh nguyện của thánh vịnh mở rộng tầm nh́n của ḿnh đến những chiều kích của cũ trụ và tránh cho tôi khỏi những bốc đồng của cảm hứng chóng qua. Khi tim tôi đập nhanh, những thánh vịnh tầm tĩnh giúp tôi hạ nhiệt. Khi tim tôi đập quá chậm, có những thánh vịnh lay động tôi. Như thế, tôi ở trong t́nh trạng hoàn toàn hài hoà như một con tàu trên biển cả không chao đảo, v́ nó có trung tâm trọng lực ngay bên trong nó. Kinh nguyện c̣n đem lại cho tôi một niềm vui khác nữa, đó là cầu bàu, có khả năng cầu bàu để binh vực dân ḿnh. Tất cả những ư nguyện của các gia đ́nh, cộng đoàn của cả thế giới đi qua tâm hồn Linh mục của tôi và được chuyển đến trước nhan Chúa. Tôi là Linh mục, giống như Môisen cầu bàu cho dân Thiên Chúa, trong khi những người Do Thái đang chiến đấu và ông cũng cần người ta nâng tay ông lên. Tôi cũng nói với các tín hữu của dân Chúa: “Hăy giúp tôi cầu nguyện, tôi là người cầu bàu cho anh em”.
SỰ TỰ DO CỦA TIN MỪNG Cầu nguyện là một niềm vui lớn, dù đôi khi nó cũng khô khan và nhọc nhằn. ta c̣n một niềm vui khác, đó là niềm vui của sự tự do Tin Mừng. Có một bản văn Tin Mừng đặc biệt nhắc nhở tôi: “Ai bỏ nhà cửa, anh chị, cha mẹ, con cái v́ danh Thầy, th́ sẽ nhận lănh bội hậu và được hưởng đời sống vĩnh cữu”. Ngày nay là thời người ta bám víu bao nhiêu sự việc, tôi khó thoát khỏi tính duy kỷ. Tôi thường bị cuốn hút bởi cơn lốc của bao nhiêu lo âu của cuộc sống. Nhưng tôi cũng hiểu và tôi đă kinh nghiệm sự từ bỏ giúp tôi hạnh phúc. Niềm vui được từ khước số lương cao, tiện nghi, những bảo đảm cho tương lai. Niềm vui đến trong một cuộc sống đạm bạc và khó nghèo. Tôi biết hạnh phúc ở nơi đó, nhưng tôi vẫn do dự khi đi vào con đường đạm bạc và khó nghèo. Nhưng phải đặt niềm tin trọn vẹn vào cha trên trời luôn biết ta cần điều ǵ. Đối với việc độc thân cũng thế. Đối với đức vâng lời, đó không phải là sợi dây trói buộc tôi, mà biểu lộ ư tôi muốn khép ḿnh vào trong sức mạnh của chương tŕnh của Thiên Chúa trên nhân loại và vũ trụ. Vâng lời, thay v́ làm ta nhu nhược, lại tăng cường nghị lực nơi chúng ta, dựa trên ư muốn của Chúa Cha và lời khuyên nhủ của bề trên.
THỢ GẶT KHAN HIẾM Khi người ta khó nghèo, trong sạch và vâng phục, th́ có cảm xúc t́nh thương hơn, tinh mắt hơn, lổ tai thính hơn, có thể lắng nghe từ xa, âm thanh không bị nhiễu. Nhưng v́ đó mà người ta dễ bị quấy rầy bỡi những xáo trộn, tiếng ồn ào náo nhiệt. Như thế, ta cũng muốn bàn đến những điều đó, những nỗi đau khổ của chúng ta. Đau khổ đầu tiên mà tôi nghĩ đến là số Linh mục ngày càng ít, mức trung b́nh về tuổi của các Linh mục tăng lên cách đáng ngại. Triệu chứng là thuốc hoặc ít ơn gọi và chúng ta tự hỏi, liệu khi chúng ta đi rồi, các cộng đoàn chúng ta có c̣n các Linh mục nữa không? Điều làm chúng ta khổ tâm hơn hết là ngày qua ngày, chúng ta không thể làm tất cả mọi việc cách năng nổ và dồn dập nhu trước kia. Chúng ta biết rỏ việc rao giảng Tin Mừng khổ chỉ là vấn đề số lương Linh mục; không phải là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội thiếu thợ gặt: Đức Giêsu đă báo trước điều đó. Có khi nhiều họ đạo giao cho linh mục coi sóc – dĩ nhiên là có những giới hạn – nhưng chưa hẳn là tận thế. Điều này đă xảy ra trong lịch sử chúng ta. Đó là t́nh trạng ở nơi khác, ví dụ ở Châu Mỹ La Tinh một giáo xứ có 70000 giáo dân không phải là một luật trừ. Nhưng chúng ta cũng biết thật là tốt khi một linh mục ở giữa các tín hữu của ḿnh, trên cùng một mảnh đất để gần gủi thông chia vui buồn với họ. Chúng ta cũng biết rằng, việc các Linh mục qua đời, hoặc các Linh mục hoàn toàn dấn thân phục vụ cho các họ đạo khiến cho các giáo dân ư hơn trách nhiệm của họ phải cộng tác với các Linh mục. Tuy nhiên kinh nghiệm cho ta biết rằng chính những người giáo dân này sớm muộn ǵ cũng đ̣i cho có các Linh mục mới, v́ họ cũng mệt hụt hơi. Đó cũng là đau khổ, nhưng đừng quá bi quan!
NHỮNG XUNG KHẮC ĐÁNG SỢ Tôi bàn đến một nỗi đau khác của Linh mục. Ngày nay Linh mục và cả Giám mục sống đơn sơ, gần với cộng đoàn của ḿnh và đời sống trần thế. Sự gần cận này đ̣i hỏi phải có quả tim rắn chắc, với hết mọi ư nghĩa của từ này. Điện tâm đồ của một Linh mục hay Giám mục có biên độ rất lớn. Trái tim của Linh mục phải uyển chuyển và cố gắng để qua một đám tang đến việc đứa trẻ mới sinh. Tuần tự chứng kiến những biến cố đối nghịch như thế thật nhọc nhằn dù cho nó cũng đem đến sự thoả măn và b́nh an. C̣n một việc c̣n khó hơn nữa, chính là việc mục vụ đ̣i hỏi phải đứng vững ngay giữa ḷng sông có bờ rất hẩm. Thật vậy, Linh mục nào không biết sự xung khắc giữa công bằng và thương xót, giữa giáo thuyết và thực hành, những đ̣i buộc của Tin Mừng và sự thông cảm nhân hậu sự khác biệt giữa Giáo hội vĩ đại và đ̣i hỏi của các tín hữu đáng thương, giữa Roma và Giáo hội địa phương…Người th́ đ̣i hỏi các Linh mục phải theo đường lối chính thống khắc khe nhất, người khác th́ mong đợi thực tế và thích nghi các Linh mục giống như thánh Chrisrtophô đáng thương phải đưa Chúa Giêsu Hài đồng qua con sông mà hai bên bờ không muốn nh́n thấy nhau. Linh mục cảm nghiệm được cái nghề “cầu nối” rất khó khăn, phải bắc những chiếc cầu nối hai bên bờ sông đang khi nó muốn ĺa xa nhau măi.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA TỪNG XẢY RA Một đau khổ khác, một cuộc chiến khác: càng ngày các Linh mục chúng ta càng đương đầu với nhiều vấn đề mới và không đơn giản. Nhất là trong lĩnh vực luân lư mà những vấn đề ngày thêm chồng chất:Bệnh AIDS, luân lư sinh học, sinh sản vô tính, những ứng dụng hữu ích của kinh tế và chính trị, những vấn đề về hôn nhân, những h́nh thức nối tiếp nhau của đời sống chung, vấn đề đau thương của những cặp ly dị tái hôn trong Giáo hội, những tiêu chuẩn để được nhận các bí tích… Ngày xưa, loại vấn đề này không vượt qua khỏi văn pḥng của chuyên viên hoặc bàn làm việc của nhà phẩu học luân lư trong đại chủng viện! Ngày nay, những vấn đề này di chuyển khắp nơi và người ta đ̣i hỏi các Linh mục thường có tŕnh độ tổng quát phải có những trả lời rỏ ràng và tức khắc liên quan đến những quyết định nghiêm trọng.
MỘT KƯ ỨC BỊ XOÁ MỜ. Trên đây là một nổi khổ, nó có thật và c̣n một nổi khổ khác, có lẽ c̣n khó khăn hơn nữa, đó là sự xoá mờ kí ức Kitô giáo. Trả lời những câu hỏi trên tự nó đă phức tạp rồi, nhưng nhiệm vụ không đơn giản. Khi tôi nhận xét rằng, ở nơi nhiều người, kư ức Kitô giáo dường như bị xoá mờ. Họ rất ít ư niệm về Thiên Chúa, không c̣n khung tư tưởng để đặt vào những câu trả lời. Họ đă đánh mất tiếng mẹ đẻ của Kitô giáo. Ta thấy hai lần khó hơn khi phải trả lời những câu hỏi của họ, khi họ không có ngữ vựng thích hợp.Vấn đề ngôn ngữ này chúng ta phải đương đầu hằng ngày, chúng ta phải nhọc nhằn chuyển dịch những đoạn dài của tin Mừng thành những hạng từ dễ lĩnh hội hơn. Điều đó thật khó, nhưng càng khó hơn nữa đối với những diễn văn dài ḍng… của Giáo hội. Chúng ta không mấy thành công trong việc này không phải v́ không có khả năng mà v́ bất lực. Thật vậy làm sao diễn tả thực tại kho tàng đức tin bằng những hạng từ mới mượn trong ngôn ngữ thông dụng của báo chí và truyền h́nh? Hiểu biết tiên khởi về một tiếng mẹ đẻ thật cần thiết, ngược lại c̣n có một lô từ ngữ, ư niệm rất quen thuộc với ngưới hiện đại, ví dụ như uy quyền, dân chủ đồng trách nhiệm, quyền lực cai trị. Ta đă hiểu những từ này nhưng không dùng được theo đúng nghĩa của nó khi ứng dụng vào lănh vực đức tin và Giáo Hội: ta phải vận dụng phương pháp loại suy để chuyển dịch chúng sang ngôn ngữ của Giáo Hội, ví những ư niệm uy quyền dân chủ, đồng trách nhiệm, quyền lực hoặc cai trị không thể chuyển dịch nguyên trạng trong bối cảnh giáo hội. Tất cả các ư niệm trần tục được dùng trong bối cảnh giáo hội trở thành những bộ y phục hoặc quá khổ, hoặc quá chặt để mà hợp với thực tế nội dung mà những từ này muốn diễn đạt. Là Linh mục, chúng phải đương đầu với tŕnh trạng nghèo nàn về ngôn ngữ, thiếu hiểu biết mà chúng ta phải gánh phần trách nhiệm của ḿnh trong những điều lũng cũng này. Tuy nhiên thay v́ giống lên những điều than văn tốt hơn ta hăy cộng tác vào cố gắng vĩ đại từ nay áp đặt cho Giáo hội về vấn đề giáo lư và đào tạo.
CÁI GIẦM TRONG THÂN XÁC. Bấy giờ chúng ta hăy đi sâu hơn nữa vào những khó khăn và chiến đấu nội tâm. điều làm tôi đau khổ hơn hết, không phải là tất cả những điều đă nêu trên mà ta đă biết; nhưng chính sự mỏng gịn, yếu đuối của riêng ḿnh. Chúng ta chứa đựng kho tàng trong những b́nh sành, như thánh Phaolô đă nói và ngày cũng đề cập đến “một cái giầm trong thân xác”… và mỗi người đều đau khổ về cái giầm này. May mắn là thánh tông đồ không giải thích cái giầm đó là ǵ: giải chăng đó là một chứng bệnh, một khuyết tật, một chứng bệnh tinh thần, quá khứ đau buồn v́ đă bách hại Giáo hội, một bệnh thể lư kinh niên? Không ai có thể biết được. càng tốt bởi thế nên cái giầm này trong thân xác vẫn măi mù mờ để có thể ám chỉ về hết mọi thứ ǵ, có thể gây rắc rối cho chúng ta trong việc trong đồ của ḿnh. về điều bất trắc đó, chúng ta nói: “Ôi! Lạy Chúa, Chúa giải thoát con khỏi điều đó, con sẽ là người tông đồ tốt hơn, hữu hiệu hơn!” nhưng chắc ta đă biết câu trả lời của Chúa như thế nào rồi: “Ơn Ta đủ cho con, v́ quyền lực của Ta được biểu lộ trong sự yếu đuối của con”. Như vậy, nỗi đau khổ của người tông đồ không phải là một tai nạn bất ngờ nó cần thiết bởi v́ nó là phương thế chắc chắn mà Thiên Chúa dùng để tranh cho người tông đồ khỏi ỷ lại vào sức riêng ḿnh. Cũng hay khi thánh Phaolô thoát chết ở hí trường Êphêsô, v́ đă lên án việc thờ nữ thần Diana. V́ qua việc rao giảng đă làm phá sản thợ kim hoàn Đêmitriô làm giàu nhờ sản xuất tượng nữ thần này: “nỗi thống khổ xảy đến cho tôi ở Châu Âu đă làm cho tôi yếu nhược tột độ, vượt quá sức tôi, khiến tôi nản ḷng không muốn sống nữa: thật ra, tôi đă mang nơi tôi bản án tử h́nh, để học biết không nên đặt tin tưởng nơi ḿnh, mà nơi Thiên Chúa là Đấng ban cho kẻ chết sống lại”.
CUỘC CHIẾN CỦA NIỀM HY VỌNG Đó là những nổi nhọc nhằn và đau khổ của chúng ta và ngay cả khi chúng ta được thánh thiện trong một Giáo hội hoàn hảo, chúng ta vẫn phải chịu đựng những nổi thống khổ và bách hại, v́ sự ác ở trong thế gian và nó chống lại Đức Kitô và Giáo hội. Chúng ta không thể tránh né mầu nhiệm của sự tàn nhẫn này. Đây chính là nổi khổ riêng của Linh mục là cảm thấy ḿnh phải lănh quá nặng tội lỗi thế gian. Linh mục đích thực phải cùng với Đức Kitô thấm nhập vào mầu nhiệm của Vườn Cây Dầu. Linh mục không bao giờ nói ra nhưng bị sâu xé tận tâm hồn bởi tội của thế gian. Kiệt sức bởi gánh nặng của sự tàn nhẫn như thế. Linh mục cảm thông và thương xót người tội lỗi và những người luôn gây dấu ấn cho sự thánh thiện. Ta chỉ cần suy nghĩ về việc thánh Têrêsa Lisieux “ngồi chung bàn với những tội nhân”. Đồng hóa ḿnh như thế với tội lỗi thế gian như Đức Kitô đă thực hiện trong Vườn Cây Dầu, sẽ đặt Linh mục đối diện với thử thách to lớn “nếu tất cả những điều đó, bao nhiêu say mê, bao nhiêu lao nhọc, bao nhiêu chiến đấu, nếu tất cả điều vô ích?” Và nếu Lời Chúa không có trọng lượng v́ trước sự tồn tại của sự dữ? Sự tiếp cận đau đớn này với sự dữ, nổi cảm thông sâu xa với tội nhân, cảm nghiệm sâu sắc về ảnh hưởng của tội lỗi và biết tự ḿnh không thể thoát khỏi tội lỗi, những thực tế này tạo thành hậu cảnh của tâm hồn Linh mục mà nhà văn Bernanos đă khám phá trong quyển La Joie ( niềm vui) và trong quyển “Nhật kư của một Cha sở miền quê” (Journal d’un curé de campague) với một tầm nh́n sâu xa, sự thông tuệ thiêng liêng không ai sánh kịp. Linh mục có bí quyết, có đặc quyền ḱ lạ để hội nhập vào sự hấp hối của tội nhân vào một sự đau khổ có giá trị cứu độ thật sự. Cuối cùng, một sự thốn khổ cuối cùng giáng xuống cho chúng ta v́ sự nguội lạnh bao la về tôn giáo mà ta đang chứng kiến làm sao ta hiểu được việc ta hiến đời ḿnh ảnh hưởng quá ít như thế? Phải chăng ta không kịp thích nghi hoặc người khá sanh lầm? Làm thế nào mà t́nh yêu không được yêu, theo lời than nổi tiếng của thánh Phanxicô Assisi? Làm thế nào để thích ứng với sự im lặng lạnh lùng của vũ trụ và sự hờ hững của toàn nhân loại trước cái chết trên thập giá của Con Thiên Chúa? Và “khi Con Người trở lại thế gian, liệu c̣n gặp đức tin?”. Cuộc chiến thiêng liêng hệ tại đứng giữa sự hệ tại to lớn đó, không phải với ḷng can đảm mà với ân sủng của Thiên Chúa để phải khỏi bị cám dỗ phải kết án ai hoặc kiêu căng cho ḿnh thánh thiện hơn người khác. Đó là cuộc chiến đấu của hi vọng, cuộc chiến đấu căn bản nhất của mỗi Linh mục và Giám mục: đừng để nỗi thất vọng ngự trị trong ḷng ḿnh. Chỉ có mỗi một cám dỗ hơn nhất mà các vị đại thánh phải trăi qua vào cuối đời của ḿnh là cám dỗ chống lại niềm hy vọng. Không phải vô lư mà Péguy buộc Thiên Chúa phải lên tiếng trong “Le Porche du Mystère de la deuxiène vertu”: “Đức tin không làm ta ngạc nhiên. Đức mến cũng thế. Thiên Chúa bảo, điều làm ta ngạc nhiên, đó là đức cậy”. Những ai bền ḷng trông cậy, t́nh yêu sẽ không bao giờ qua đi. Tuy nhiên, đối với hiện tại, trong ba nhân đức đối thần, đức cậy là vĩ đại nhất. Hồng Y Godfried Danneels Tổng Giám mục Bruxelles Malines (trích Prêtres Diocésains No1357/1998)
|