TRƯƠNG VĨNH KÝ

ĐỐI VỚI

TỆ NẠN CỜ BẠC VÀ NHA PHIẾN

Diệu Hoa

 

Trong sự nghiệp sáng tác của Trương vĩnh Ký người ta chưa để ý mấy đến những sách ông ghi chép các phong tục tập quán của người Việt Nam, cho thấy đối với văn hóa Việt Nam ông thật sự có quan tâm. Đặc biệt đối với những tệ tục xấu, có hại đến đời sống và phong hóa dân tộc, ông có thái độ thật sự lo lắng. Ông đã viết hẵn một tập sách phân tích tác hại của hai tệ nạn này. Hiện nay còn lại bản in lần thứ hai năm 1898 ở Sài Gòn của cuốn sách « Cờ bạc, nha phiến » do ông viết, dày 78 trang.

Phần văn xuôi ở 16 trang đầu là án văn nghị luận đầy tính thuyết phục bao gồm 9 mục, liên kết ý tưởng rất chặc chẽ :

1.     Vì cớ gì có nạn mê cờ bạc ?

2.     Đánh bài đánh bạc là tốt hay xấu ?

Ở mục này để dẫn đến lập luận « Đánh bạc là sự xấu lắm » ông đã đưa ra 3 cớ và 4 tội.

3 cớ là gương xấu gây ra cho chính mình, cho đồng bạn, đồng sự và con em trong gia đình. Hư tâm lý, hỏng tính cách, bại hoại gia phong, là những ý rất sâu sắc.

4 tội là những tội đánh lận, ăn gian : rũ rê, ép uổng ; lấy của chung vợ chồng mà đốt trong canh bạc ; lúc thua thì lừa đảo, ăn cắp, ăn cướp. Hậu quả thật đáng sợ.

            3.  Lợi hay hại ?

Nhìn sâu đến hậu quả những lúc thua bạc và ngay cả lúc nhất thời được bạc, ông phân tích rõ :

a.      Nó hại mình : hại trí (chí) ; hại xác

b.     Nó hại của

c.      Nó hại vợ con.

Từ đó dẫn đến sự khẳng định tự giác :

            4. Khôn hay dại ?

            5. Nước mê là xấu

            6. Làm sao cho khỏi nước mê ?

            7. Cờ bạc đem người ta đi đến đâu ?

Bằng lối viết dựa trên cả lý luận và lý trí, Trương vĩnh Ký đã dẫn người đọc đến mục :

            8. Thà đừng chơi đến thì hơn, sau khỏi điều hối hận.

Mục 9 ông viết những lời kết luận khá nhiều sức rung động :

« Cờ bạc ơi là cờ bạc ! Mày có ngải có thuốc chi mà mày rũ quyến anh em quá mê theo mày dữ vậy ? Mày độc ác, mày yêu quái, hại thiên hạ biết chừng nào !.

Kìa, cửa nhà phố phường tòa ngang dãy dọc, bạc tiền vô ra như nước, ít lâu tiêu tan đi hết cũng vì mày !.

Kìa, vườn đất giăng giăng, ruộng nương cò bay thẳng cánh, cố cầm đi, sang tay kẻ khác cũng vì mày.

Ấy, quần đôi áo ba lòe loẹt, chân giày chân dép xênh xang, vòng vàng chuỗi hột, chiên chiên cà rá, mới thấy đỏ tay đó, bây giờ trần trụi xơ xác, cũng bởi vì mày !

Ấy, nát cửa hại nhà, tán gia bại sản, mang nghèo mang khổ, vợ chồng phân rẽ, thân sơ thất sở cũng bởi vì mày !.

Nào danh thơm tiếng tốt, nào quyền cao lộc cả, ông kia bà nọ nhiều lần nhơ danh xấu tiếng, bị tai hại vì ai, cũng bởi vì mày !.

Nào cô sang bà lớn, nào quần là áo lượt nhỡn nhơ, nón cụ quai tơ nhỏng nhẻo, vòng vàng chuỗi hột đỏ tay, nó tiêu dần hết đi, vì ai ? Cũng bởi vì mày !.

Ta hãy nghe lời cái thằng cờ bạc nó than thân nó thì biết nó ra làm sao :

            Thò lò quay đất, nó đã khuấy anh

            Quần áo bán hết một manh chẳng còn !

            Gió đông non, anh còn chịu được

            Gió bấc gào, nó lọt vào xương

            Em có thương anh, tìm tiền chuộc áo

            Vợ có thương chồng, nấu cháo mà nuôi !... ».

 

Trương vĩnh Ký viết thật thấu tình đạt lý. Xét đến cùng, người ta thấy đây không chỉ là cái hay của văn mà là cái tốt của một tấm lòng quan tâm đến cuộc sống của con người, lo lắng đến lợi ích của con người và sự tồn tại của xã hội.

       Tiếp sau bản văn của mình, Trương vĩnh Ký còn cho in thêm 2 bài thơ dài khuyên chồng với lời đề dẫn :

« Thơ này là thơ đời nay của Hai Đức ở Chợ Lớn đặt ra. Mượn lời vợ ngoan thỏ thẻ nói hơn nói thua với chồng mà khuyên chồng lánh hai cái hư là cờ bạc, hút sách đã vô ích mà lại thâm hại của tiền, tổn trí tháo sức lực, làm khổ cho vợ con phiền hà. Sa cơn nghiêng nghèo cơ bản chi trung ắt tắc cùng tư lạm hĩ ; lỗi đạo nhà, mắc phép nước mà lụy đến mình, phải tội vạ ; lìa vợ bỏ con, thất thổ vong hương, cực thân khốn nạn chẳng ra gì. Nên khuyên giữ lấy thân danh cho vợ chồng con cái sum hiệp ở đời với nhau ».

Bài  Quê phụ đổ yên giải có những câu thống thiết về cái tệ nạn thứ hai là nghiện hút :

 

« Ai ngờ chút lửa đèn hoa

Đốt lên, dầu đất, dầu nhà cũng tan

Ai ngờ chút ống tre tàn

Thổi ra, trâu, ruộng, một đàn cũng bay !

Tiền hóa, thêm lại mình gầy

No chi tới vợ, béo gì tới con ?

E khi của hết, tật còn

Trăm năm biết có vuông tròn được chăng?”

 

Chắc rằng khi chọn thơ văn để minh họa cho nghị luận, ông rất có ý thức về mục tiêu tuyên truyền vận động quần chúng.

Nói đến nha phiến và tác hại của ma túy, Trương vĩnh Ký đã dành 10 trang cho một bài nghị luận dài có lập luận chặt chẽ:

1.     Nha phiến là vật thế nào ?

2.     Sự tích nha phiến

3.     Dùng nha phiến thì thế nào ?

Trên quan điểm khoa học, nhận chân một vài tác dụng chữa bệnh của nó, nhưng chỉ nhìn nhận nó như một dược liệu để dùng theo đơn khi có bệnh. Còn « nếu dùng nó không trúng cách, quá độ, thì trở nên thuốc độc, nó hại, nó giết người ta chết đi, cũng mau, cũng dữ, như lưỡi gươm chém một cái vậy ».

Ông cảnh cáo mọi người :

« Ban đầu mới hút thì chẳng thấy nó hại gì, mà có khi nó làm cho khoái. Cuộc ăn nha phiến nó cũng có thú nó, nên dễ cho người ta mắc nó lắm ».

« Chúng bạn hay mời, biểu hút chơi một hai điếu nó tiêu. Hối đầu còn làm lẽ, một không hai không ; lần lần quen mới không từ nữa, chơi chơi vậy, lâu nó mới quen đi nó mới ghiền cho. Đến chừng ấy, chúng không còn mời nữa ; đâu có hút, lết dép mò tới, đặng có hút thép một hai điếu. Sau lâu, chúng quay mặt, tức mình mới đổ hoang sắm ống, sắm nồi, mua mâm, mua đèn riêng mà hút ; ban đầu còn giấu đút, sợ mẹ cha cô bác, hoặc sợ vợ con rầy rà. Mà càng lâu lại đổ xầy ra, dọn ra hút giữa nhà làm sao thì làm, liều mạng : bất quá thì bá quất ».

4. Nghiện nha phiến

Chính là hệ quả của cái thói quen thử rồi hút mãi. Cái chương 4 này đúng là một thiên phân tích diễn biến tâm lý sâu sắc cụ thể của quá trình dẫn một đối tượng ngây thơ thành kẻ nghiện ngập dại dột.

5. Ích gì mà hút

« Xét cho kỹ chỉ thấy hại mà thôi.

Có kẻ bị nghiện mà nghèo, khi phải tạo đến xái nhất, xái nhì mà hút ; khi lại không kịp hút, phải vo viên nhựa ba nhựa bảy mà nuốt. Bởi hút lâu hoặc nuốt nhựa, cho nên càng ngày càng ra ốm o, gầy mòn, đi ra gió thổi muốn ngã, môi nhợt lơ nhợt lớt, nước da mét chằng mét ưởng, con mắt lim dim nửa nhắm nửa mở, hình thì coi chẳng ra con người. Ấy là hại xác. Nó lại còn hại trí nữa : hút thì mắc lo hút mãi nên bỏ học bỏ hành, bỏ coi sách coi vỡ nên sự nghe thấy càng ngày càng hẹp, trí sắc sảo càng ngày càng lụt ».

Hại nó làm cho :

a.      Mất công mất lên, bỏ việc bỏ vàng, không làm gì đặng.

b.     Trí ra lụt đi, lừ đừ lôi thôi, không toan tính cái chi cho xong cho rồi.

c.      Vợ con phiền hà rầu rĩ, cũng phải nhịn miệng, nhịn ăn, nhịn mặc, phải thiếu thốn, đói khát thất thường, gia đạo có khi hết của hết cải, tán gia bại sản.

d.     Mình vóc ốm o gầy mòn, tinh thần suy kém liệt bại, sức lực hao tổn yếu đuối… ».

Sau phần biện luận, ông đưa ra một số thơ phú người xưa đã sáng tác ra để bao biếm khuyên răn. Ngoài những bài giải nha phiến từ, chước từ, tờ để nha phiến thì đáng chú ý nhất là bài văn tế nha phiến là một bài dài viết theo thể phú, giàu hình ảnh hiện thực sinh động, có gia trị phê phán cao đối với người mắc vòng nghiện ngập :

« Lúc phong lưu nghĩ cũng nên đời

Khi nghiện ngập nghĩ ra mà sợ

Vui anh em một khi một điếu

Nếm mùi đời cho đủ thứ mà chơi

Nào ngờ phút bén phút quen

Giục lòng khách đến cơn lại nhớ

He hen ngáp vặt

Mặt mũi lừ đừ

Mũi sổ dạ đau

Chân tay buồn bã.

Người vương nhân xu sự phó công,

sợ phép nước cũng ăn không nói có

Chốn thành thị buôn thua bán lỗ

Khăn khăn áo áo cũng nhuộm muồi cầm

Nơi thôn dân đồng trắng nước trong

Ruộng ruộng trâu trâu cũng chui vào lỗ.

Gái thuyền quyên nên mặt bủng da chì,

trai tráng sĩ cũng rùng vai rụt cổ.

Kìa những kẻ văn hay võ mạnh, đã mang vào còn xếp bút gác cung.

Huống chi người tài siển trí ngu, chơi quá độ cũng vong gia thất thổ ».

 

Cả tập sách non 100 trang của Trương vĩnh Ký, với nội dung bao gồm những bài văn nghị luận thấu lý đạt tình, lại có thơ phú làm văn chương minh họa, đã cho ta thấy nỗi niềm lo lắng, và ý thức trách nhiệm công dân của ông trước những tệ nạn xã hội cho dân cho nước. Vì thế mà cho đến nay, tập sách vẫn còn giá trị thời sự gắn liền với công cuộc bài trừ văn hóa độc hại đang diễn ra trên toàn xã hội.

 (Theo xưa và nay số 2 (24) tháng 2. 1996).