KỶ NIỆM MỘT NGÀY TRONG VĂN HỌC SỬ
CÁC HỌC GIẢ HIỆN NAY ĐỐI VỚI CỤ
J.B. PETRUS TRƯƠNG VĨNH KƯ
CUỘC DIỄN THUYẾT CỦA ÔNG GIÁO SƯ LÊ THÀNH Ư
TRƯỜNG TRUNG HỌC ALBERT SARRAUT
Nói đến các nhà bác học và văn hào Trương vĩnh Kư th́ chẳng ai là không biết tiếng, nhưng hồ đề đă mấy người được biết rơ lịch sử ông.
Chắc cũng v́ nghĩ như vậy, nên ông Lê thành Ư, giáo sư trường trung học Albert Sarraut đă đề tâm kê cứu rất rành mạch về cái đời vẻ vang của nhà học giả ấy và chiều hôm rồi ông đă đem kể lại tại giảng đường trường Cao đẳng trước một số đông thính giả nam, nữ; vừa người Pháp vừa người Nam.
Đúng 6 giờ, sau lời giới thiệu có ư vị của quan Học chính giám đốc Bertrand, giáo sư Lê thành Ư bắt đầu nói chuyện.
Ông Jean Baptiste Petrus Trương vĩnh Kư, thực danh là ông Trương sĩ Tài, sinh ngày 6 Déc. 1837 (đến nay vừa đúng một thế kỷ) tại làng Vĩnh Thành, huyện Minh Lư, tỉnh Vĩnh Long? (Nam kỳ) là con cụ Trương chánh Thi, ḍng dơi một thế gia vọng tộc, chị cả ông mất sớm, sau phụ thân sinh ra ông sang công cáng bên Cao Miên rồi tạ thế, ông thành một người mồ côi ở với mẹ lên 5 tuổi, ông theo học chữ Hán tại một thầy nho trong làng. Khi ông chín tuổi, một ông cố đạo người Nam, do cụ thân sinh ra ông cứu thoát chết hồ trước, xin với bà mẹ ông nhận lănh ông về để trông nôm săn sóc ông thành người hữu dụng. Hai năm sau ông vào học trường thầy Ḍng trên Cao Miên, được giao tiếp với nhiều giống khác nhau, nên ông nảy ra ư kiến học chữ ngoại quốc từ đấy. Năm ông 15 tuổi chuyện học tiếng Hy Lạp và tiếng La Mă tại Cù Lao Poulo Penang. Nhưng sau lại nổi danh nhất là về khoa Pháp ngữ.
Ông biết tất cả 17 thứ tiếng, nào tiếng Anh, tiếng Ư, tiếng Ấn Độ, tiếng Hy Lạp, tiếng La Mă, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha… nhờ có những nhật báo cũ mà ông đă ky cóp được để học. Rồi bà thân sanh ra đời ông phải trở về quê hương để chịu tang và lo việc tống táng năm ấy ông đă 21 tuổi. Sau ông lấy vợ người tỉnh Gia Định và lưu tâm đến việc làm sách dạy đồng bào.
Xảy ra cuộc chinh chiến giữa nước Pháp và nước Nam, nhiều vị cố đạo ngoại quốc bị chém giết. Năm 1858, quan phó thủy sư Rigault de Genouilly đánh lấy thành phố Tourane và năm sau chiếm được Sài G̣n, rồi giao lại quyền bính cho ông Jauréguiberry để về Pháp, ông này nhờ vị cố đạo ở Gia Định t́m hộ một viễn thông ngôn, th́ ông Trương vĩnh Kư được tuyển vào chức ấy. Ông vừa làm thông ngôn vừa lại vừa là nhà ngọai giao biệt cai trong việc nối t́nh liên lạc của hai nước Nam và Pháp: hồi tháng Julillet năm 1858, vua Tự Đức cử ông đi với ông Phan thanh Giảng, sang Pháp yết kiến vua Napoléon III.
Khi tới bến Marseille, các vị sứ thần đều lấy làm lạ mắt về những đều trông thấy: nào nhà cao 6, 7 tầng, nào phố xá rộng răi lại lạ nhất là những ngọn đèn điện, những tàu bè đồ sộ… Lúc ngồi trên xe lửa từ Marseille lên Paris và khi tới Paris, các vị sứ thần lại công lấy làm ngạc nhiên hơn nữa. Ở Paris ông Kư được giao thiệp với nhiều chánh trị gia bên Pháp nên kiến vân và kiến thức ông được rộng răi thêm.
Một năm sau ông trở về Sài G̣n, lại giữ chức thông ngôn như trước, nhưng từ đây hoạt động nhiều nhờ có sự từng trải và kinh nghiệm trong lúc đi sứ. Ông chuyên dịch các sách chữ ngoại quốc ra tiếng Việt Nam để đồng bào dùng mà học lại dịch cả những sách quốc ngữ ra chữ ngoại quốc để người xứ ngoại biết rơ nước Nam.
Năm 1864 được cử dạy học tại trường thông ngôn là nơi đào tạo ra các nhà cầm quyền cai trị dân sau này. Sau ông được cử chức đốc học trường ấy từ năm 1866 đến 1868.
Năm 1865 ông bắt đầu viết báo bằng tiếng Pháp, thường vẫn đăng bào vào tập kỷ yếu hội “Canh nông và kỹ nghệ tai Nam kỳ” do ông Roze tại Sài G̣n đứng chủ trương.
Năm 1867 ông Kezguda là Thống đốc Nam kỳ mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối. Cùng năm ấy ông xin xuất bản tờ “Gia định báo” viết bằng quốc văn và chuyển đăng các tin tức về công văn.
Tờ báo lúc này chính là tờ đầu tiên trong báo giới Việt Nam, mà ông Trương vĩnh Kư tức là ông tổ nghề viết báo.
Từ năm 1882 cho đến hết đời ông, ông thật cúc cung tận tụy với cái chủ nghĩa đáng quư, là đứng làm trung gian giao thiệp với Chánh phủ Pháp; gây t́nh liên lạc giữa Nam triều với Pháp đ́nh.
Ông xuất bản rất nhiều sách. Năm 1876 ông ra Bắc kỳ chơi, xem xét kỹ lưỡng về đủ phương diện rồi sau lại c̣n làm nhiều sách quốc văn có giá trị nữa để xuất bản. C̣n những sách dịch của ông cũng không phải ít, ông lại làm cả sách bằng tiếng Tây Ban Nha nữa.
Chẳng những người Pháp, người Trung Hoa biết ông, cả người ngoại quốc cũng phải mến tài ông. Chẳng thế mà trong số 18 vị hiền triết ở thế giới, ông được kể vào hạng thứ 17. Ông lại có chơn trong nhiều hội ở Pháp nên danh tiếng ông càng lừng lẫy thêm.
Năm 1886 đại tướng De Courcy coi cả 2 xứ Trung Nam kỳ về Pháp nghỉ, ông Paul Bert sang thay. Tháng Février năm ấy ông Paul Bert vừa tới Saigon đă tiếp chuyện ông Trương vĩnh Kư ngay. Mấy hôm sau ngài viết thơ cho ông và yêu cầu ông hai việc: 1) Kể cho ngài một bản danh sách các người Nam nào có thể lănh chức thông ngôn được, v́ ngài cho ông là biết rơ hơn hết. 2) Cử ông ra công cán tại Huế trong mấy tháng. Ông nhận lời, rồi tháng Avril năm ấy ông dịch bài tuyên bố chánh kiến ông Paul Bert.
Cuộc công cán thành công, ông Paul Bert lại lưu ông tại Huế để giúp việc chánh phủ Nam triều. Được ít lâu, v́ thủy thổ bất phục và bị đau phổi, nên ông dâng sớ lên vua Đồng Khánh xin về trí sỉ.
Ngày 1 er Septembre 1898 ông thở hơi cuối cùng, thọ 62 tuổi.
Chánh phủ nhớ ơn ông có dựng tượng đồng tại Saigon để kỷ niệm.
Ông thật là một nhà học giả trứ danh, một tay ngoại giao đại tài, một người có công lớn với nền quốc văn và lịch sử nước nhà.
SAU LỄ KỶ NIỆM CỤ SỈ TẢI
LỜI CẢM TẠ CỦA GIA Đ̀NH QUYỀN TRƯƠNG VINH
Thưa quan Thống Đốc,
Thưa quí vị Thượng quan,
Thưa các ngài, các anh em, chị em, cô bác
Thay mặt cho gia quyến Trương Vĩnh, tôi xin muôn ngàn trân trọng cám ớn các ngài đă v́ quá yêu tiên nghiêm chúng tôi mà tổ chức ra ngày kỷ niệm rực rỡ hôm nay.
Lễ kỷ niệm này dành là một công cuộc biểu dương tài đức riêng của một người, nhưng mà ngoài sự biểu dương riêng ấy, chúng tôi thấy c̣n có hàm cái nghĩa sâu xa hơn nữa, là: trên từ chánh phủ, dưới đến quốc dân, như có một ḷng nhắc nhở cái buổi giao thiện khó khăn trong lúc hai dân tộc mới t́m hiểu nhau mà yêu mến lấy nhau và hơn tiện khuyến khích những ai sau này biết đem văn chương đạo đức mà phụng sự cho nước nhà.
Đời tiên nghiêm của chúng tôi là một đời có thể rút lại vào hai chữ “phụng sự” đâu phải gặp bước khó khăn thế nào, vẫn không tuổi chí, vẫn không ngă ḷng.
Cái gương ấy, trọng nhà Trương Vĩnh chúng tôi đều coi như khuôn vàng thước ngọc. Nhưng nghĩ lại người xưa, xét đến ḿnh nay chúng tôi như ư chúng tôi ước vọng. Một pho tượng đứng sờ sờ ngay trước đại lộ Norodom, chúng tôi đă cảm khích các ngài đă quá yêu một người mà làm vẻ vang cho cả một gia tộc. Cái ơn ấy vừa mơớ chứa chan vô hạn, nay lại đến làm lễ bách châu niên này.
Ngày giờ là một ông ṭa thẩm phán rất công b́nh. Ngày giờ đă đem lại cho nhà Trương Vĩnh chúng tôi một lần nữa, xin đa tạ quư ngài đă nhắc nhở tiên nghiêm chúng tôi một cách rất hiếm có, muôn năm ngàn kiếp, chúng tôi xin khắc cốt ḿnh làm.
TRÊN CON ĐƯỜNG VĂN NGHỆ
BA GIẢI THƯỞNG VĂN CHƯƠNG
CỦA QUAN THỐNG ĐỐC NAM KỲ
Giải thưởng văn chương này, chúng tôi đă có lần nói đến, quan Thống đốc Nam kỳ định đặt ra mỗi năm ba giải thưởng cho những tác phẩm bằng quốc văn do những tác giả là người Annam soạn ra:
- Giải nhứt $1200.00
- Nh́ 600.00
- Ba 200.00
Không có giả thứ (ex acquo). Ban giám khảo có thể chỉ bạn giải nh́ và giải ba mà thôi. Giải nhứt sẽ để dành lại nếu không có một tác phẩm dự thi nào có đủ giá trị về văn thể và nội dung.
Những giải thưởng nhứt c̣n để dành lại sẽ dùng làm một giải thưởng đặc biệt cứ năm năm ban một lần nhưng không ban quá 3.600p.00
Những tác giả được phần thưởng đặc biệt sẽ được dự vào ban giám khảo.
Những tác phẩm dự thi sẽ do một ban giám khảo gồm có năm giám khảo văn của chánh phủ đặt ra, xem xét. Những giám khảo viên không được dự thi.
Điều lệ
Cuộc thi do chỉ dụ số 3361 đề ngày 28 Mai 1937 đặt ra.
Khoản thứ nhứt - Cuộc thi này sẽ mở ra cho tất cả những văn sĩ người Annam, bất hạn sanh thiệt mạng 2 người.
Nguyên chiếc ôtô chở củi của hăng tàu Nam Vang, số C.C.592, do một anh tài xế Annam cầm banh, chạy từ Thủ Dầu Một qua Bến Cát trên xe có một người cặp răng và hai người culi, xe chạy c̣n cách Bến Cát chừng sáu cây số ngoài, trong địa phận làng Long Nguyên vừa quẹo « lacua » người tài xế bẻ bánh quá gắt lấy lại không kịp ; thành thử xe luỗi đầu vào một gốc cây rồi lật ngang xuống ruộng. Tên culi Nguyễn văn Bon bị xe đè bể sọ chết liền tại trận, anh cặp răng Nguyễn văn Lêng 24 tuổi bị thương quá nặng nằm ngất ngư.
Anh tài xế và người culi nữa bị thương sơ sài. Người ta chạy báo tin cho chức việc làng Long Nguyên đến làm biên bản, và cho chở anh cặp răng đi nhà thương Chợ Rẫy, nhưng v́ thương tích Lêng nặng quá nên đi dọc đường anh ta lấy hơi thở cuối cùng.
Gởi tác phẩm dự thi phải kèm thêm một tấm giấy chỉ rơ tác phẩm dự thi nên liệt vào thể nào, tiểu thuyết, kư ức…
Khoản thứ tư – Các tác phẩm dự thi phải gởi 2 bổn theo dây thép - về tại (ler Bureau 2è Section du Gouvernement de la Cochinchine) trong thượng tuần tháng giêng mỗi năm. Những tác phẩm gởi sau thời hạn ấy sẽ không được ban giám khảo xét đến.
Khoản thứ năm ban giám khảo các tác phẩm dự thi làm việc trong thời gian 5 tháng, mỗi giám khảo viên có thể sau khi xét về nền văn thể và nội dung mỗi tác phẩm, cho điểm số từ 0 đến 20.
Nếu điểm số trung b́nh dưới 18 th́ không được thưởng.
Khoản thứ sáu. Chánh phủ không có quyền ǵ về các tác phẩm được thưởng cả, nhưng Chánh phủ được quyền giữ lại một bản, Chánh phủ không chịu trách nhiệm nếu bản thảo các tác phẩm dự thi bị hư hỏng. Sau ngày Ban giám khảo quyết định và tuyên bố kết quả rồi th́ trong thời hạn một tháng các tác giả được quyền lấy bản thảo các tác phẩm ra tại ler Bureau 2è section ở phủ Thống đốc Nam kỳ.
Số mai chúng tôi sẽ có bài phê b́nh về « cuộc thi văn chương » này.
MỘT DẬT - SỬ TRONG ĐỜI NHÀ ĐẠI VĂN HÀO VIỆT NAM
ÔNG PETRUS TRƯƠNG VĨNH KƯ
LẠI CŨNG LÀ MỘT NHÀ « HIỀN TRIẾT »
Đă có lần, trên mặt báo này nhơn nói đến tấm bản chữ dưới chơn tượng của ông J.B. Petrus Trương vĩnh Kư ở đại lộ Norodom, đồng ư cùng bạn đồng nghiệp « La Patrie Annamite » ngoài Bắc chúng tôi yêu cầu nên khắc các sự nghiệp văn chương của ngài và một cái tư tưởng hay một ngạn ngữ nào mà thường ngày ngài thích hơn hết, như thế sự kỷ niệm mới thích nghi… mà rồi sự nghiệp ngài mới c̣n sống măi với thời gian, lúc ấy chúng tôi không vừa ḷng bạn đồng nghiệp ngoài Bắc kêu ngài là một nhà hiền triết (philosophe), mà thật vậy cứ theo sự nghiệp ngài để lại cũng chỉ là một nhà đại văn hào mà thôi, dầu hôm nay chúng tôi phải mượn một dật sử trong đời ngài mà một bạn đồng nghiệp mới thuật lại, nói về tư cách thánh nhân quân tử của ngài, ta cũng không thể nói ngài là nhà hiền triết đặng, v́ điều đó không phải là sự nghiệp chánh trong đời ngài, mà nó chỉ là một dật sử thôi.
Ông Petrus Kư là một nhà « hiền triết »
Nhơn cuộc lễ kỷ niệm đệ bách châu niên sanh nhựt sắp cử hành trong ngày 6 Décembre tới đây, chúng ta tưởng nên kể hết những điều trong đời ngài.
Một hôm, ông J.B. Petrus Trương vĩnh Kư cùng người người học tṛ ḿnh là ông Trương minh Kư dắt nhau đi dạo phố… nên nhớ rằng ngài là một người đă có một địa vị cao quư trong thời ấy rồi. Vừa qua một khúc đường, có một đám trẻ nít đang chọi đáo trên lề đường, một cậu nhỏ chọi… đồng xu băng băng chạy theo gót giầy ông J.B. Petrus Trương vĩnh Kư lại đạp nhầm, đồng xu phải ngă mất trớn chạy. Mấy cậu bé ó lên chửi nhiều lời khiếm nhă, nào « lăo già làm phách », « nào lăo già ỷ đi giầy Tây đạp xu của ta »…
Thân nhiên ông Petrus Kư nhẹ nhàng bước tới không them ngó lại để nghe coi đám trẻ ấy chửi ai. Ngài đi xa, đám tre lại càng chửi to hơn nữa.
Không thể nào dằn nỗi uất ức, học tṛ ông là Trương minh Kư trở lại rượt đám trẻ và la ó lên : « Bọn khốn nạn, bộ bây không thấy ai đó sao mà bây chửi ? Nếu « Quan lớn » bắt bây bỏ tù ráo »
Đám trẻ chạy tản đi, mà ông Trương minh Kư cũng không hết nỗi tức giận, trở lại chạy theo thầy và cằn nhằn thầy ḿnh rằng : « ối, ôi tức ḿnh thầy quá, tôi không hiểu v́ sao thầy lại để bọn con nít như vậy chửi thầy, mà thầy không biểu lính bắt tụi nó ».
Tươi cười như người vô sự, ông Petrus Trương vĩnh Kư lại nói : Thế Tải (1) người ta thấy đó sự giáo dục của thầy c̣n kém đó, bởi tṛ không hiểu rơ cái ư của thầy… trước hết phải biết coi, v́ sao thầy bị bọn trẻ ấy chửi đó ? Hết thảy các đấng thánh nhân hiền triết đều nói chỉ có cái xấu của ḿnh của ḷng ḿnh của lư tưởng ḿnh gây ra mới làm hại cho danh dự của ḿnh thôi. Đối với danh tiếng của thầy trong thế giới th́ có nên làm om lên v́ một chuyện như thế không ? Tṛ thấy chớ bây giờ đă hết rồi.
………………………..
(1) Thế Tải là tên của ông Trương minh Kư
Chỉ có tṛ và đám nhỏ vô t́nh bất lương biết chuyện lôi thôi ấy thôi. Nếu thầy kêu một người lính, tức phải thưa gởi ra ṭa rồi thầy có lợi ǵ kia chớ ? Đó rồi dư luận sôi om ṣm lên… tiếng đồng khắp cùng, chỉ c̣n một điều họ sẽ nhớ măi là ông Petrus Kư bị chửi. Ô ! Trương minh Kư, tṛ có biết lại c̣n có nhiều sự hại khác nữa không, là biết đâu chừng họ sẽ nói các tiếng chửi ấy là đáng cho ông Petrus không, không đừng thế nghe Trương minh Kư cái yên lặng là hay hơn hết. Cái yên lặng sẽ làm cho ta quên đi hết những sự khốn nạn của người đời. Trong đời thầy, thầy chỉ muốn sao tṛ cũng phải giống tánh như thầy vậy.
Ấy thế, ông Petrus Kư là nhà hiền triết.