MỘT ĐỜI NGƯỜI

  

LAI LỊCH

         

Ngày tháng lần qua…

          Một thế kỷ gần giáp năm …

          Ở đất nam kỳ, năm 1887, ngày 6 Décembre, Âm lịch đinh dậu, dưới triều vua Minh Mạng, năm thứ 18, tại làngVĩnh Thành tục danh là Cái Mơn, tỉnh Vĩnh long(1) jean Baptiste Petrus Trương Chánh Kư ra đời.

          Trương Chánh Kư, sau đổi lại là Trương Vĩnh Kư hay là Petrus Kư biệt tự Sĩ Tải, là con thứ ba, của ông Dominique Trương văn Ṭan và bà Nguyễn thị Chánh.

 

THUỞ HỌC TR̉

         

Con nhà nho, 5 tuổi, Trương Vĩnh Kư chịu vở ḷng học chữ nho với ông đồ học ở trong xóm : 9 tuổi cha chết, linh mục Long thấy Kư thông minh dĩnh ngộ, bèn đem Kư vềtrường thầy ḍng ở Cái Nhum cho học chữ latin.

Thời bấy giờ vua Minh -Mạng thăm hận đạo Gia- tô, cho là trái với cang thường phong tục bản xứ, ắt hại cho sự sống c̣n của dân tộc, năm 1825 hạ chiếu cám đạo, 1833 hạ chiếu sát tả (2). người đạo gai tô trăm phần hồi hộp, nhứt là cácnàh đạo ḍng như họ Trương Vĩnh kư náu ẩn trong trường nào yên nỗi mẹ với anh ở nhà, nhưng học th́ cứ chăm học. Thiên -tự man hiểu, nhớ bền, thầy càng dạy càng thấy cái kỳ tài của tên học tṛ nầy.

            1848 cha Long dời Kư về Pinha lu ở đất Cao Miên cho người yên trí học tập. Pinha lu là một cái trường đạo, ở đó có học tṛ các nơi, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao, Xiêm la. Diến điện Trung Quốc, đủ sắc giữa đám người thập phương ăn nói lạ lùng, Trương Vĩnh Kư lần ṃ qua học, nói các thứ tiếng, viết các tuồng chữ được cả, xuất sắc thiên tự một nhà ngôn ngữ học mà tuổi đầu mới có 11,12.1852 theo thầy nấu sử sôi kinh …cha Long - cứ cha Long – làm hướng đạo đưa qua học trường ḍngở Pinang, một cù lao nhỏ ở biển Hạ châu. Cuộc đi gian nan như một buổi chạy giặc. Sáu năm ở Pinang Trương vĩnh Kư học các môn văn chương, khoa học, triết lư trong chữ Latin, một kỳ thi lănh được phần thưởng đại luận về triết học thảo bằng chữ Latin. Lại học môn tiếng Gree, tiếng Anglais, tiếng Ấn Độ, tiếng nhựt. Học dễ dàng mà lại có công lắm.

          1858 nghe tin mẹ mất, Trương Vĩnh Kư, 21 tuổi, từ giă thầy bạn, trở về Cái Mơn toại chí một vị thơ sinh trẻ non mà tài cao học rộng.

  

LẬP CHÍ

         

1858 Minh Mạng, Thiệu Trị hai đời vua đă qua; vua tự Đức nối ngôi; mối đạo Gia Tô vẫn c̣n là một mối ưu hoạn của Triều đ́nh. V́ đạo động dao, máu nhà dạo phang sa, máu ba tánh thấm nhuần đỏ đất như hai muơi năm về trước. Càng giết, máu trung tiết tử - đạo càng nuôi ḷng tin đạo. Cái giết nguời bao giờ cũng là cái mưu cùng của kẻ yếu thế cuồng tâm, hay là v́ cuồng tâm mà yếu thế.

          27 Juin 1858, nước Pháp kư ḥa uớc Thiên tân

          1er Septembre 1858, Pháp tấn binh chiếm đồn cửa Hàn (Tonrance)

          11 Février 1859, Pháp kéo tàu vào cửa Cần Giờ.

          18 février, thành Gia Định thất thủ.

          Giang sơn nước Việt Nam ta vào nước Pháp từ đây, tuy đây giữa ngôi vị nhà vua và biên cương thủy thổ hăy c̣n.

          Trương vĩnh Kư sanh trưởng trong không jhí nhân từ nhà đạo gia Tô lại nhuần gọi bằng văn chương đạo lư của Tây Âu Kim Cổ, hẳn đă công nhận rằng cái căn hóa dồi dào của Tây Phương rất nên mến phục.

Vả lại nhà ngôn ngữ học từng thấy người khác giống khá ṇi, giang sơn cách trở, mà trên trường ngôn ngữ, phong tục, tư tuởng, vay muợn tài hồi cho nhau ra nhiều nhà bác học ấy không khỏi đa cảm mối t́nh cao thượng, cho loài người là bốn biển anh em, liên lạc đại đồng.

          Có lẽ v́ vậy, lại v́ từ chất hiền lương ḥa nhả của ngài Trương Vĩnh Kư bao giờ cũng giữ một thái độ trung b́nh, đối với đạo không mê tín, đối với nước nàh không có t́nh si, tin ở một Thiên chủ th́ cứ lấy ḷng tôn kính một nhân loại mà làm nền hạnh kiểm. Nên chỉ, chịu ơn nhà đạo, sau nầy ra làm việc với nhà nước Đại –Pháp nhiềi khi lại đứng giữa thông ngôn môi giới cho Pháp - Việt giao bảo, cgài có chí phô bài nước mà không nhị tâm, cái khôn ngoan trung thành của ngài ở chỗ đó.

 

LÀM VIỆC QUAN VÀ CỐ VẤN GIỮA TÂN TRÀO

         

20 Décembre 1860, ra làm thông ngôn cho quan Nguyễn Soái Jaméquiberry. 1868 theo bộ sứ Phan Thanh Giảng sang triều kiến vua Napoléon III.

          1er Avril 1870 hộ từng sứ thần y –pha Nho đến triều kiến vua Tự Đức.

          Từ 1866 tới 1868 làm giám đốc và dạy tiếng đông phươngở trướng thông ngôn (Collège des Interprètes ).

          1er Janvier 1872 thọ chức tri huyện và giám đốc trường s7 phạm (Ecode Normale).

          1er Juin 1872 làm thư kư giữa hội đồng thành phố Chợ Lớn.

          1er Janvier 1874 làm giáo sư dạy tiếng Annam và chữ Nho ở trường tham biện hậu bổ (collège des saglaires ).

          1er Avril 1886 giúp việc cho quan Toàn quyền Paul Bert, lại sang cơ mật viện làm giám quan cố vấn cho vua Đồng khánh.

          Trương vĩnh Kư là viên quan thứ nhứt ra giúp việc cho Nhà Nước Lang –sa. Nhưng nhờ tài học và ḷng trung ch1nh của ngài, cơ hội nào ngài cũng không mấy địa vị một người đại biểu của phái người /annam Nhà Nước trọng dụng làm cố vấn. Bức thơ « Phúc cáo về quyền lợi của Việt - Triều ở dọc theo Cửu Long Giang ». « Mémoire sur les droits de l’Annam dans vallée du Mékong) chứng rằng phần trợ chánh của vị cố vấn đó không phải nhỏ. (C̣n nữa).

 

 

Lễ kỷ niệm giáp trăm tuổi

Của Petrus TRƯƠNG VĨNH KƯ

 

MỘT ĐỜI GƯƠNG

 

Nhà Giáo sư

 

          Ngài ra giúp việc Nhà Nước nhiều, là vỉ bởi ngài là một nhà học rộng và có công. Suốt một đời Trương Vĩnh Kư một nhà hiếu học mà nhà bác học nầy giữ  kỷ luật chính chắn lắm. Phàm học ǵ hay là đi đến đâu thấy ǵ, ngài cũng biên kỷ để sau làm tài liệu cho việc tra cứu trước tác. Ngài cho là “cái ǵ cũng có ích cho cả”. bởi v́ “cái ǵ học cũng có ích cho cả”. Ấy là lời nói phải học rộng ngó xa, ngài há lại chẳng biết có cái học không bổ ích hay sao ? Nhưng cũng nhân học có phương pháp, hay biên hay chép, đâu đó tại liệu sẵn cả, nguời tên là Kư, mà lấy sự là “Sỉ Tải” với lại nhờ ngài làm giám dốc ở trường thông ngôn và dạy tiếng ở hậu bổ, nên chỉ những bài tiếng Annam, bài chữ nho ngài soạn sau thành sách vở cả.

 

          Sách dạy người Lagsa.

          Abrege de Grammaire, Annamite (1876)

          Cours pratique de langue Annamite (1866)

          Phraséologie, Thème, Version.

          Cours de langue mandarine en caracrères chinois (1875)

          Exercises pratiques du Cours de langue mandarine.

Grammaire de la langue Annamite (1883)

 

Sách dạy người Annam :

-        Chuyện tiếng Annam và tiếng Phangsa (1882)

-        Guide de la conversation Annamite. Sách tập nói chuyện tiếng Annam và tiếng Phang - sa

Cours d’Annamite aux élèves Annamites, explications du Lục Vân Tiên (1886)

 prosodie et versification Annamite (1886)

-        Hát lư ḥ Annam

-        Mẹo tiếng Annam

-        Mẹo chữ nho.

 

Vă lại thời bây giờ Nhà Nước bài chế độ hương học bằng chữ nho ở Nam kỳ, mở trường « mộ » học tṛ dạy chữ quốc ngữ. Việc cần kiếp bấy giờ là làm sách cho cá trường làng trường tổng dùng mà dạy. Truơng Vĩnh Kư nhân việc khẩn cấp đó mà viết ra các sách giáo khoa.

-        Mannel des Ecoles primaires ou simples notions sur les sciences à l’usage des jeunes élèves des écoles de l’administration de la Basse Cochichine. 1er vol. Syllabaire quốc ngữ, Histoire Annamite Histoire chinoise.

-        Petit cours de Géographie (1875)

-        Cours d’Histoire, Annam, quyền nhứt (1875) quyễn nhị (1877).

-        Cours de Géographie de l’Indochine avec cartes générales et particullèrsen six parties Cochinchine, Annam Central, Tonkin, Combodge, laos, Birmanie.

-        Petit Dictionnaire Franicais Annam (1884)

-        Dư đồ thuyết tược, précis de Géographie (1887)

-        Ước lược truyện tích nứơc Annam (1887)

 

Các sách ấy ngày nay có khi kẻ học tṛ cho nó là cũ kỷ quá, chớ thời bây giờ thật là cái ch́a khóa quí báu mở dưỡng cho con nhà Annam bước vào tân học, quí báu cho cả các quan Tham biện bên Pháp mới sang, đối với nhân vật xứ ta th́ đầu đuôi mọi sự lạ lùng hết.

 

DUY TR̀ HÁN HỌC

 

          Dạy mới th́ dạy, nhưng văn chương phong hóa củ, một người học rộng như Trương Vĩnh Kư há lại khinh thường mà bỏ qua ư ? Kể từ thuở ấy ngài đă ngụ ư phải dựng cho người Annam một nền quốc học củ mới giao hoan điều ḥa.

          Về vấn đề nầy nhà chính trị Luro trong bài giảng về « chánh – Pháp nước Annam » có lời tiếc sao Nhà Nước không khéo dụng các quan cựu học mà soạn sách về bằng chữ quốc ngữ cho nhiều, một mặt dịch ra các sách báu - học để duy tŕ nguồn đạo lư và giữ ǵn thuần phong mỹ tục cho Annam, một mặt lần lần đem các khoa học cách vật trí công nghệ của người Tây về mà khai trí tiến đức cho người Annam.

          Trương Vĩnh Kư, bạn đồng liêu với Luro, lại là người Annam, không khỏi đồng một ư kiến với Luro về vấn đề yếu trọng đó ; nên chỉ trước sau ngài cố công dịch sách nho ra quốc âm và sách thi văn tiếng nôm chép chữ quốc ngữ rất nhiều. Bộ Tứ thơ ngài dịch trọn, nhưng in ra có quyển Trung dung (1875) quyển Đại học (1877) ; tập Mạnh tử in bản đă tới chương thứ 5, c̣n bao nhiêu th́ c̣n dự thảo cả.

          Cũng trong một loại, ngài soạn dịch những tập :

          - Sơ học vấn tân                                    (1884)

          - Huấn mông khác ca                            (1884)

          - Tam tự kinh                                         (1884)

          - Tam thiên tự giải âm, tú học toát yếu  (1887)

          - Minh tâm bửu giám 2 quyển               (1891)

          Nay những khi ngậm ngùi thương, tiếc cựu học của ta đă vội tàn, ta chưa kịp gom nhuốm lại chút lương hỏa của người xưa.

          Mấy khi cầm tới bộ Minh Tâm, Đại học, Trung dung nhà nhà đều có, ai là Người Nam chẳng trọng ơn của Trương Vĩnh Kư khi ấy vội vàng trăm phần truyền lại một với hai trong nền cựu học của xứ ta ?

 

Sưu tập và phổ thông và nôm

 

Về phần văn nôm, thơ truyện của ta xưa, ngài soạn chép ra chữ quốc ngữ, giải nghĩa và in ra được nhiều tập.

Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1881)

                    Trương lương tùng xích từng tử du phú (1881)

                    Kiếp phong trần

Huấn nữ ca của Đặng Hùynh Tung (18820

                    Thơ dạy làm dâu (1882)

Gia định phong cảnh vịnh

Gia định thất thủ vịnh (1882)

Kim Gia định phong cảnh Vịnh (1882)

Trương lưu hầu phú (1882)

Thơ mẹ dạy con (1882)

Nữ tắc (1882)

Gia huấn ca (của Trần Hi Tăng) (1883)

Học tṛ khó phú ( 1883)

Hàn nho phong vị phú (1883)

Thạnh suy bi thới phú (18830

Bài dịch con quạ (1883)

Ngư tiều trướng diện (1995)

Phú bầu truyện (1885)

Mắc bịnh cúm tứ (1885)

Lục súc tranh công (1887)

Phan trần truyện (1889)

          C̣n văn tế, tuồng hát, thơ truyện nhiều tập khác in ra không kịp nay lưu lại mất.

Kể vào những sách ngài tự tay viết ra theo lọai nầy như :

          Chuyện đời xưa (1866)

          Chuyện đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1776)

          Bất cuợng (1882)

          Chuyện khôi hài (1882)

          Cờ bạc nha phiến (1885)

 

Với tập nguyệt san tựa “Thông loại khóa tŕnh” Miscellanées ou lectures Instructives pour les élèves des écoles primaires communales et cantonales (1888) th́ Trương Vĩnh Kư là gười lần đầu trong ba kỳ nước Việt đă dùng điện chữ La-tinh, phổ quốc âm, tục gọi là chữ quốc ngữ, mà sáng lập cho nước ta một nền văn chương phổ thông bằng tiếng ta đó. Chữ nho chữ nôm cất tiện dụng phổ thông, th́ công tŕnh của Trương Vĩnh Kư đối với học thuật nước ta có giá trị, mà cái trí tín của ngài ở âm đức văn chương đạo nghĩa của một điều chúng ta khá thương mà suy niệm lắm. Hồn văn chương đạo nghĩa của dân tộc, cái khôn ngoan, cái sống thương yêu, sống vui và sống mạnh của một giống ṇi hà không phải ở trong câu ca, điệu hát, trong những lời ăn nói, cười cợt khóc than, tư tưởng, của giống ấy ṇi ấy đời đời truyền dạy nhau trong tấm linh hồn bất diệt, chính là tiếng nói của dân tộc ấy sao ?

 

Tài học phi thường, trong đời dỉ đức lập ngôn phụng sự văn chương tiếng mẻ đẻ như Trương vĩnh Kư, thật là xứng đáng phẩm hạnh một nhà bác học.

                                                                                                    (C̣n nữa)

                                                                                           Nguyễn văn Liễng

 

 

 

NGỌN ĐÈN TRƯƠNG VĨNH

 

Trong một bài thơ xưa tả trăng non có hai câu :

 

Miệng thế chớ chê rằng chếch mát

Một mai tṛn trịa bốn phương bay !

 

Nói trăng, mà tỏ ḷng mơ ước ngày sau đặng rực rỡ vẻ vang hơn ngày nay, nay dầu vơi khuyết chớ mai cũng tṛn, không lẽ chịu thiệt ḥai một phương trời tốt. Bỉ cực thới lai, lẽ thường vậy ! song điều trong ấy một hai khi cũng chẳng thấy thành. Đă biết đêm rằm th́ trăng tṛn rạng tỏ, mà sau ngày rằm tám bảy năm Mậu Tuất  (1898)  ? Khi ấy đâu đặng mười giờ, vùng Chợ Quán im ĺm giữa giữa tối, chỉ thấy đốm rải rác trong mấy nàh ở giữa vườn cau. Trên trời chắc cũng có trăng tṛn ở đó, mà mắc mù mịt mây giăng, có cũng như không, bốn phuương trời người không thấy đặng. Hóa ra đất trời u, ám bóng đèn leo lét nhái sao trăng ! Mây ngút dập dồn ngọn gió nỉ non sầu cảnh vật …

 

Trong một cái nhà kia, dưới bóng một ngọn đèn tỏ hơn hết, trên một cái bàn chất đầy sách vỡ, thấy rạng ngời một cái trán rộng cao, trân có tóc bạc nhiều, dưới long lanh một cặp kiếng, mũi cao, miệng rộng, càm tṛn không râu, hết thảy gọi bóng đèn giữa tối, coi chẳng khác chi một cảnh phi thường, có nỗng, có rừng, có hổ, vó đảnh, một cỏi linh thiêng trong hắc ám.

 

Ông Trương Vĩnh Kư để viết xuống, cất mặt lên, lấy tay đè ngực ho vài tiếng, rồi ngó ngay truóc mặt, lẳng lặng mơ màng. Trước ḿnh ngài th́ có quyển sách, thứ nhứt của nho Pháp văn đại tự điển của ông Littré lật ra khoảng giải nghĩa chữ civllisation, dưới tay ngài th́ thấy một xấp giấy trắng tờ trên có tiếng Langsa và tiếng Annam xem lộn Chữ chót của ngài viết là chữ civllisation chữ viết lớn, dưới có gạch một đường , sau có thêm một chấm. Sau nữa th́ giấy trắng mà thôi, giấy trắng tinh anh như ḷng trinh bạch chờ tiếng ngọc vàng. Song lời hay chưa đến, mà bấy giờ đă thấy những con chỉ nhỏ chạy đầy, coi chi chi mà giết đi ngay, cứ một bề né né, lăng xăng ḥai mà không biết đi đâu … Ông Trương Vĩnh Kư tinh dịch trọn bộ Tự điễn Littré, ngài dịch tới chữ civllisation ; rồi ngừng bút lại mà suy nghĩ. Ngài soạn rồi một quyển tự vị, nhỏ Pháp Việt đă xuất bản, có đủ tiếng thường dùng, song ngài chưa thỏa dạ, nghỉ rằng sách ấy chẳng qua là để giúp trẻ con c̣n học, chớ chưa đủ ǵ mà gầy nổi một nền chánh đáng quốc văn. Và có nhiều tiếng lang sa dịch ra trong sách ấy, nay ngài muốn dịch lại làm sao cho đúng tinh thần.

 

Nhớ chữ Hysréric, khi trước ngài dịch “bệnh nơi tử cung” mà ra, song cho là không đúng, v́ tiếng ấy, tuy là do một chữ Hi lạp nghĩa là “tử cung” mà ra, song chỉ một cái bịnh thần kinh bắt chồng tâm, dật ḿnh té xỉu như phong xù vậy. Ngài bây giờ thường nói : “Phàm đều chi, vậy ḿnh có thấy, có biết, rồi đặt tên mới chắc, nghĩa khỏi mơ hồ và tên ấy, chẳng phải do nơi người hữu học, nhiều khi tự trọng cảm t́nh của trả dối mà ra”, cho nên trong cuốn Tự điển ngài đương sọan, có nhiều tiếng La sang sa, ngài không dịch ra tiếng Annam như tiếng Hystérle trên nầy, ngài nói chừng nào chừng nào tới đó ngài sẽ giấy trắng một khoản, rồi đi kiếm hỏi thầythuốc Annam hay là người đă thấy bịnh ấy coi phần nhiều kêu tên ǵ, chắc rồi ngài mới để ấy vô sách, như vậy ắt khỏi sai lầm.

 

Hôm nay ngàiviết chữ civllisation trên giấy rồi bắt ngẫn ngơ buông viết. Khi nào, th́ Ngài c̣n mau mắn dịch ra “sự giáo hóa, sự làm cho thuần thục”, chớ bây giờ chẳng biết làm sao mà ngồi im đó hoài.

 

Chẳng phải ngài không biết tiếng khác : văn hóa, văn minh, mấy tiếng ấy, ngài rơ những mấy đầu ngón tay của Ngài, c̣n kiếm nổi chi, chưa sành để nó vô trên giấy ? Ai mà biết đặng ? Hay là Ngài quí thể không an đă lâu, mà cứ ngồi ṛng viết măi, nên hao ṃn sanh ra lăng trí đi chăng ? …

 

Kế một hồi lâu Ngài ho lên vài tiếng, hơi thở mệt vô cùng. Ngài đưa tay run run … lấy viết, chấm mực rồi Ngài bộ rất khó nhọc, cúi đầu đồ chữ C, đầu của chữ civllidsation, đồ đi đồ lại, mực chảy xuống đầy, chẳng biết dịch chữ ấy làm sao cho vừa ư. Ngài nghĩ rằng : Cái ǵ trong ḿnh nó phát ra mới nhiệt là của ḿnh ! Dầu tốt hay xấu dở hay cũng ra màn giả dối. Cái da ḿnh đó, dầu đen đúa cũng của ḿnh ai muốn kêu tên ǵ, ḿnh cũng biết nó ra làm sao ! Chớ cái áo tốt mặc vô, có chắc là dính khắn. Giỏi là ai dệt ai thêu, chớ ḿnh có tài chi trong đó ! Kêu sôm kêu lố, kêu gấm, kêu hàng, kêu ǵ th́ kêu, ḿnh chỉ có tài mua mặc. Chỉ bằng rằng học cho hay, rằng làm cho khéo, bày ra cho có vật, rồi tự nhiên nó có tên, cũng như h́nh kia có bóng.

 

Có ai, con chưa đẻ, mà đặt tên nó trước bao giờ ! Thà có con mà không đặt tên, kêu “thằng hai, thằng ba” cũng đặng. Có con chỉ như hát bội rộn ràng sân khấu, vô buồng hết con. Như tiếng civllistion này, miệng th́ nói vậy, chớ trí hiểu làm sao ? Cái đó nó ra thể nào mà bắt chước người Tàu đặt tên đùa cho là “Văn minh, văn hóa?”.

 

Ngài nghĩ suy tới đó, th́nh ĺnh, một đám con nho nhỏ rót thêm xuống giấy trăn khan, có vài con té nhằm chữ C, đọng mực, rồi lăng xăng lít xít chạy hàng ngang, mặc thích vẻ rồng vẻ rắn. Chỗ sức ông Trương Vĩnh Kư phải dừng, mà bọn nhỏ nầy chẳng có chút ǵ bợ ngợ …Ở ngoài th́ tối đen, gió thổi vù vù, thỉnh thỏang một con chim ở trong vườn kêu nghe “cú, cú !” mừng đêm  …

 

Ông Trương Vĩnh Kư để viết xuống ho vài tiếng, miệng cười mà gương mặt buồn hiu, c̣n tay th́ phải mấy con nhỏ nḥ ra khỏi giấy.

 

Con nhỏ nḥ ấy có nhiều ḷa song con nào cũng đi ngang một thế. Con th́ h́nh như cái nọc, đầu vuông đít nhọn, con giống cào cào, song trên đầu có nghạnh, có gai và ḿnh mẩy đen thui như lọ. Rớt đâu th́ có một đều lăng xăng qua, lăng xăng lại, đố ai làm nố ấy tới một phần ! Có con thấy ngọn đèn rồn rực a vào, đụng ống phỏng ḿnh rớt xuống ngất ngơ, nhiều con ở trên lọt vào trong rồi bị cháy. Có một thứ bướm nhỏ lộn vào bọn lúc nhúc ấy.

 

Giống nầy ít đi yên một chỗ, mà ưa bay, song cứ bay  quanh ngọn đèn, bay ḥai mà chẳng thấy tới đâu. Có con cũng lọt vô đèn cháy cánh.

 

Ông Trương Vĩnh vừa ho vừa phủi mấy con nho nhỏ, phủi chừng nào chúng nó lại rớt thêm chừng nấy. Ngài xem tờ giấy của Ngài bị mấy con kéo mực vẻ c̣ng vẻ cua, bèn tức cười, rồi trông ngọn đèn mà tưởng. “Cũng một vật chiếu sáng nầy, mà biết dùng th́ lợi, không biết dùng th́ hại. Có đó th́ đêm hôm ta mói làm đặng, thêm ít nhiều nghĩa vụ, thế th́ nó có ích cho ta. C̣n mấy con nhỏ đi ngang nầy và mấy con bướm bay ṿng quanh đó, hỡi ôi ! biết bao nhiêu đă phải cháy cánh lạy ḿnh v́ ham ánh sáng đèn đây ! “Ngài thở ra rồi ngồi nhớ tới công tŕnh từ khi c̣n trẻ …sách ngài làm đă nhiều, song in ra th́ ít ai cần đến. Bởi thế cho nên ngài bị hao ṃn gia sản, lắm nổi khó khăn. Song ngài cũng cam phần cực khổ với đời, miễn là đời đặng chút ít chi. Cái nầy ai cũng ham vui, ưa xem ca vè, có màng chi sách học …nay ngài độ sáu mươi mốt tuổi đầu, thân ṃn sức yếu, biết làm sao cho toại chí b́nh sanh ? Lúc sau đây ngài sức giảm nhiều, song cứ một ḷng cố gắng, làm chút nào hay chút nấy, công phu ngài họa chết mới là thôi !...

 

“Keng ! keng ! Keng !... “Đồng hồ gơ mười hai giờ. Trên nóc nhà bỗng nghe lộp độp, kế giây phút ào ào mưa xối cùng nơi.

 

Ngài ngồi lẳng lặng, th́nh ĺnh có một con cóc nhảy trúng chân. Ngài giựt ḿnh rút chân lên gương mặt dường như sực nhớ một điều, bèn nói thầm rằng : “À ! Tháng nầy là tháng bảy. Tháng bảy th́ có cóc nhảy lon xon, dội tới tháng mười đặng cười hả hả. Nhảy với cười làm vầy “cũng đủ sướng cho ai, leo làm chi cho mệt cho bị tiếng đời chê cóc trèo thang”. Kế ngài bỏ chân xuống đưa tay lấy víêt rồi sữa soạn viết chẳng dè có bướm to ở đâu lại, lọt trong bóng đèn, dăy dăy, hai cánh đập lia, làm ngọn đèn lên khói bựt lên một cái rồi tắt.

 

Trong pḥng đâu đó bỗng chút tối đen. Nghe ho khúc khắc một hồi, hơi mưa lọt cào lạnh ngắt, cóc nhảy âm thầm, một ông già co rút thân ḿnh trong bóng tối, bơ vơ như một chiếc ghe gảy cột buồm đêm khuya lạc giữa mù khơi …

 

Ngọn đèn nhà Trương Vĩnh mấy mươi năm giúp rạng tài lành, một buổi khi không mà tắt. Chẳng biết điều ấy có phải là một điềm măn hạn không, mà bịnh ngài liền trở nặng, kế ít ngày, ta thôi mất hết một hiền nhơn !