Tiến sĩ Võ xuân Trang

                                               TRƯƠNG VĨNH KÝ 

1.       Nhà ngôn ngữ học

2.       Ông tổ của nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

 

1. Trương vĩnh Ký nhà ngôn ngữ học.

Để khẳng định Trương vĩnh Ký là nhà ngôn ngữ học, chúng ta có thể dựa vào những công trình về ngôn ngữ học mà ông đã viết và đặc biệt là những đóng góp của ông về ngôn ngữ. Dựa vào thư mục Trương vĩnh Ký hiện có, chúng tôi đã thống kê được trong số 121 công trình của ông viết có đến 52 công trình viết về ngôn ngữ (chiếm 43%) trong đó có 21 công trình về tiếng Việt hoặc liên quan nước ngoài như tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Campuchia, tiếng Ấn Độ, tiếng Malaisia, tiếng Birman, tiếng Tamoul… Cũng theo thư mục Trương vĩnh Ký, phần bút tích của Trương vĩnh Ký có 23 tài liệu thì có 4 tài liệu viết về ngôn ngữ.

Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của ông có thể chia làm các loại sau đây :

-        Loại sách nghiên cứu về ngữ pháp như : Tóm lược ngữ pháp tiếng Việt (1867), Ngữ pháp tiếng Việt (1884), Mẹo tiếng An Nam (1894), Ngữ pháp tiếng Trung Quốc (1894), Ngữ pháp tiếng Pháp (1872).

-        Loại sách từ điển hoặc từ vựng như : Đại từ điển Pháp-Việt (1888), Đại từ điển Việt-Pháp (1894), Từ điển Việt-Pháp-Hán (1894), Từ điển địa danh Việt Nam (1894), Từ vựng Pháp-Thái (1894), Từ vựng Thái-Pháp (1894), Từ vựng Malaisia-Pháp (1894), Từ vựng Pháp-Campuchia (1894), Từ vựng Lào-Pháp (1894)…

-        Loại giáo trình dạy và học tiếng như : Giáo trình tiếng Việt thực hành dành cho Trường thông ngôn người Pháp (1868), Giáo trình viết bằng hình ảnh (1875), Giáo trình tiếng Việt dành cho người Châu Âu (1886), Giáo trình tiếng Việt khẩu ngữ (1894), Giáo trình tiếng Việt văn học (1894), Giáo trình tiếng Malaisia (1893), Giáo trình tiếng Thái (1888), Giáo trình tiếng Campuchia (1890), Giáo trình tiếng Lào (1894), sách vần quốc ngữ (1876)…

Trương vĩnh Ký vừa là một nhà ngôn ngữ học lý thuyết vừa là một nhà ngôn ngữ học ứng dụng. Qua các công trình về ngôn ngữ học của ông, chúng ta thấy, quan điểm của ông rất rõ ràng : muốn dạy - học một ngôn ngữ nào đó thì trước hết phải có những hiểu biết đầy đủ ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Để giúp người dạy và người học thuận lợi thì công việc tiếp theo là phải soạn những loại sách công cụ như các loại sách từ điển hoặc các tập từ vựng đối chiếu song ngữ, đa ngữ. Sau khi có đầy đủ các loại sách công cụ (ngữ pháp, từ điển và từ vựng), ông mới tiến hành biên soạn các loại giáo trình dạy - học tiếng cho từng đối tượng khác nhau như tiếng Việt dành cho trẻ em Châu Âu. Tiếng Việt dành cho trẻ em Việt Nam. Ông cũng là người đầu tiên đầu tiên biên soạn cuốn Giáo trình tiếng Việt bằng hình ảnh (1875).

Về những đóng góp của ông đối với ngôn ngữ học hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đánh giá toàn diện về những cống hiến của ông đối với ngôn ngữ học nói chung và tiếng Việt nói riêng.

2. Trương vĩnh Ký – Ông Tổ của nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có thể bắt đầu từ rất lâu, từ khi người Hán sang xâm lược và thống trị nước ta ngót 1000 năm bắc thuộc, việc dạy tiếng Việt lúc đó được tiến hành bằng chữ Hán và thông qua chữ Hán. Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngòai thông qua chữ quốc ngữ và bằng chữ quốc ngữ chỉ mới tiến hành cách đây hơn 130 năm. Người có công đầu tiên trong việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài là Trương vĩnh Ký.

- Từ năm 60 - 80 của thế kỷ 9 ông đã soạn nhiều sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như cuốn tiếng Việt thực hành dùng để dạy trong trường thông ngôn Pháp (1868). Tiếng Việt bằng hình ảnh (1875), tiếng Việt dành cho trẻ em Châu Âu (1886).

Cách mạng tháng 8 thành công, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia của nước Việt Nam dân chủ công hòa (nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Nước ta có vị trí trên trường quốc tế nên nhiều người, nhiều nước trên thế giới quan tâm đến việc học và dạy tiếng Việt.

- 1955-1960 Giáo sư Nguyễn tài Cẩn được mời sang dạy tiếng Việt tại trường Đại học Tổng hợp Lêningrat.

- Sau đó giáo sư Hoàng Tuệ được mời sang giảng dạy tiếng Việt tại Ba Lan

- Thời kỳ chống Mỹ cứu nước nhiều nước xã hội chủ nghĩa như Ba Lan, Tiệp Khắc, cộng hòa dân chủ Đức…vv nhiều nước tư bản như Nhật, Pháp cũng mời các nhà ngôn ngữ của ta dạy tiếng Việt trong trường Đại học của họ.

Sau ngày đất nước thống nhất nhiều Đại học của các nước Mỹ, Pháp, Nhật, Hàn Quốc cũng mời chuyên gia ngôn ngữ học của ta đến dạy tiếng Việt cho sinh viên của họ.

Tại Mỹ có hơn 10 trường Đại học có bộ môn dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

-        Thời đổi mới và mở cửa (1986) người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng đông và nhu cầu học tiếng Việt ngày càng tăng. Nhằm đáp ứng nhu cầu đó, năm 1995 trường tiếng Việt Sài Gòn đã tổ chức khóa bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài khóa đầu tiên có 160 học viên.

-        Đến năm 1999 trường đã mở được 3 khóa bồi dưỡng nâng tổng số giáo viên được đào tạo và hành nghề lên đến gần 300 người.

Khi đã có đội ngũ hành nghề bằng việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, cuối năm 1999 trường đã tập họp anh chị em giáo viên do trường đào tạo đang dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và tổ chức lễ suy tôn cho cụ Trương vĩnh Ký là cụ tổ của nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngòai. Mỗi người lần lượt dâng hương lên cụ tổ. Từ đó đến nay trường tổ chức dâng hương cụ vào dịp Tết.

Nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngòai phát triển về mặt số lượng mà còn có một lịch sự hơn 130 năm. Vì vậy việc tôn vinh ông tổ nghề và xác định các thế hệ nối tiếp là việc quan trọng và cần thiết. Tính từ cụ Trương vĩnh Ký người khai sinh ra nghề đến nay đã có 7 thế hệ nối tiếp và tạm xác định như sau :

 

1868            1898              1920              1940              1960           1980             1995              nay

 

      Thế hệ 1       Thế hệ 2         Thế hệ 3       Thế hệ 4       Thế hệ 5        Thế hệ 6         Thế hệ 7

 

 7 thế hệ này tạm xác định với các đại diện như sau :

Thế hệ 1 : Trương vĩnh Ký

Thế hệ 2 : (chưa xác định được)

Thế hệ 3 : Nguyễn khánh Toàn và một người Nga

Thế hệ 4 : Nguyễn đình Hòa, Nguyễn tài Cẩn, Hoàng Tuệ, …

Thế hệ 5 : Hoàng trọng Phiến, Bùi Phụng, Nguyễn anh Quế, Bùi khánh Thế, Đinh lê Thư, Đặng văn Đạm…

Thế hệ 6 : Nguyễn thiện Nam, Vũ văn Thi, Nguyễn minh Thuyết, Nguyễn văn Huệ, Nguyễn thị ngọc Hân, Trần thị minh Quới, …

Thế hệ 7 : Các học viên do trường tiếng Việt Sài Gòn đào tạo từ năm 1995 đến nay đang giảng dạy tại Trường Tiếng Việt Sài Gòn và các cơ sở khác.