TRƯƠNG VĨNH KƯ TỔ SƯ BÁO CHÍ NAM KỲ

 …………

 

Bouchot nói rằng bài luận này nhắc Trương vĩnh Kư từ bực các nhà giáo sư tầm thường mà đem ngài lên đường trường khoa học thuần túy. Bài này xuất bản các nhà bác học chuyên môn nhứt tâm công nhận cho là đáng lư cả.

Phương pháp của Trương vĩnh Kư chắc chắn và già dặn cách suy diễn không bắt bẻ được, các điều kết luận đều được cho là đúng cả. Đó là một sự vinh diệu không nhỏ nếu nhớ lại cái tính hay câu nệ so đo của nhà Hán học.

Nhân sự nghiên cứu và lập luân khoa học về ngôn ngữ, Trương vĩnh Kư làm bạn bút mực với các ông hàng lâm bên Tây như Litré Duruy với văn hào Victor Hugo và từ trên trường khoa học đă là người thân yêu của Paul Bert.

Cũng nhơn sự nghiên cứu t́m ṭi đó mà ngài đă định tâm viết những bộ sách, nó sẽ gom góp tài liệu học vấn của ngài như :

Flore Annamite (bản thảo An nam)

Dictionnaire francais annamite. Tự vị tiếng Langsa giải nghĩa ra tiếng Annam (1878) in tới chữ cheval.

Grand dictionnaire francais annamite (1894). Đại tự điển tiếng Langsa dịch ra tiếng Annam.

Dictionnaire biographique annamite ou De Virls illustribus regni annamitici (Tự vị những anh danh tuấn sĩ Annam)

Dictionnaire géographique Annamite (Tự vị chữ Hán dịch ra tiếng Langsa và tiếng Annam).

Sách vở của Trương vĩnh Kư đă viết hay là định viết phần nhiều là sách biên dịch hay là sách dịch thuật toàn là những sách phổ thông. Cho đến ngày nay khí cụ của nhà học tṛ xứ ta c̣n nhiều những sách có giá trị như trên kia, th́ chúng ta thấy rơ chí hướng của Trương vĩnh Kư, từ thuở sơ khai của quốc văn, thật là đem xa thấy rộng.

Thay v́ cái học « chi hồ giả dả tu thân tề gia » đă sớm dẹp rồi đi tới ngày nay ngang hàng với sách De Viris illustribusgracca. De Viris illustribus roma, ta chưa có quyển sách đúng đắn bằng chữ quốc ngữ nêu gương những bực hào kiệt tiết nghĩa vua tôi mấy mươi đời vun bồi cho ṇi giống cho nước nhà ; kẻ học xứ ta dường như không quyết tin rằng nước kia không có Plutarque th́ không thành xứ Grèce người học xứ ta như khinh thường sự tôn cường kính dơng, cái vốn cường dơng của giống ṇi nếu không có th́ không sống được, khinh thường cái tiếng ca tụng sự cường dơng ấy chính là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, chỉ cần học tiếng nước ngoài làm trọng, hai sự lầm lạc tội lỗi ấy sợ e khi lâu lắm người ta mới chuộc lại được.

Ôn lại đời học của Trương vĩnh Kư chúng ta thấy ngài có :

* Một phương pháp : học th́ cho kỹ càng rơ rệt, mỗi tiếng mỗi vật biên đâu có rành mạch cả. Nền xây chắc th́ tường dựng cao mới được, nên chỉ ngài gia công nghiên cứu và làm tự vị nhiều là vậy.

* Một chủ nghĩa : học thực hành thực hiện ; học cao và học kỹ đặng cho người chưa học cùng học thấp hơn đặng nhờ ; học bấy nhiêu th́ truyền lại bấy nhiêu, không phải học tranh giành đoạt lợi dung cho cá nhơn mà thôi.

* Một đức tính : trong một phương thơ cho Stanislas Meunien ngài viết : « Tôi chỉ có thế làm môi giới cho hai dân tộc Pháp-Nam vừa mới gặp nhau ở Nam kỳ. Tôi chỉ có thế làm cho hai dân tộc hiểu nhau và thương nhau ; bởi vậy cho nên tôi cứ dịch tiếng Annam ra tiếng Langsa ; tiếng Langsa ra tiếng Annam, tin chắc rằng sau tiếng nói, sau chữ viết một ngày kia tư tưởng sẽ theo qua và chẳng bao lâu chúng ta sẽ nối gót theo cái văn hóa tốt đẹp (của Tây Âu).

Đem cách sách vở của ngài ra làm chứng ta có thể nói đức tin của Trương vĩnh Kư c̣n sâu xa đầy đủ hơn : dầu chữ Tây, chữ Tàu, tiếng Pháp hay là tiếng Việt đời học của ngài chỉ rằng kẻ học phải cố công sôi nấu kinh sử, rồi sau khi học rộng hiểu nhiều phải đem ra dịch thuật, diễn giải luận bàn ; duy có thể th́ cái sở học của cá nhơn mới dồi dào tăng tiến.

Dưới ng̣i bút siêng năng của kẻ học hiều mặt văn chương giao hảo kết hợp lâu ngày tom góp về văn chương nước nhà thành một nền học đặc sắc chắc chắn, của người hóa ra của ḿnh, một cái học khai trí tiến đức khác xa với cái học mướn viết nhờ là mọt cái học kết quả cho cá nhơn th́ có mà công đức cho xă hội cũng là có chừng có hạn lắm. Trương vĩnh Kư có trí tín rằng tiếng Việt sẽ gây dựng cho người Việt cái nền học giải phóng tự lập ấy (1).

Nước Việt Nam sinh sản ra một sĩ phu tài năng mà có học hành như Trương vĩnh Kư, may mắn và vinh diệu cho người xứ ta biết là bao ! Mà cũng thật đáng cho người ngoài kính phục lắm.

 

------------------

(1) Sau này các bậc huynh trưởng ṭa Nam-phong cũng nuôi một trí tín ấy cho nên dưới ng̣i bút của Phan kế Bính mới phát lên cái tín điều : « Nước Nam hay dỡ sau này nhờ chữ quốc ngữ. »

 

Nguyễn văn Liễn