www.caimon.org mến chào bạn  

HẠNH THÁNH

GIUSE NGUYỄN VĂN LỰU

Trùm Nhứt Họ Mặc Bắc – Tử Đạo

(1789 – 1854)

             I.      GIUSE LỰU – THỜI THƠ ẤU.

Tại họ Cái Nhum, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre), có ông Nguyễn Văn Sách đă kết duyên cùng bà Minh, làm nên một gia đ́nh đạo đức, khuya sớm lo thờ phụng Thiên Chúa, tuân giữ điều luật Hội Thánh, chăm lo làm ăn.

Năm 1789, Chúa đă cho ông Sách và bà Minh sinh ra một trưởng nam là Giuse Nguyễn Văn Lựu. Bởi đầy ḷng đạo đức, hai ông bà luôn mong muốn con ḿnh nên người tử tế, biết thờ phượng Chúa, nên đă nuôi dạy con trẻ thật tận t́nh sốt sắng. V́ là con đầu ḷng nên Giuse Lựu được ông bà yêu thương, cưng chiều.

Tiếc thay, người mẹ mang bệnh mà từ trần, Giuse Lựu sớm chịu cảnh mồ coi mẹ. Người cha c̣n trẻ tuổi, đă tái hôn cùng với một phụ nữ để chung xây tổ ấm và nuôi dạy con thơ. Bà kế mẫu nầy đă tận t́nh lo lắng việc gia đ́nh, yêu thương Giuse Lựu như con ruột. Hai ông bà sống chung thuận thảo, hàng ngày lo việc làm ăn, cũng chăm lo kinh sách. Ông bà lần lượt sanh thêm bốn người con nữa: một trai là Thúc sau gọi là thầy Viết và ba gái là: Ngủ, Yên, Tỉnh.

Khi Giuse Lựu nên mười tuổi, v́ công việc làm ăn tại Cái Nhum nghèo khổ, vất vả quá, nên ông Sách đem gia đ́nh ra đi t́m kế sinh nhai. Gia đ́nh ông Sách đến cư ngụ tại họ Ḅ Ót, (xưa thuộc địa phận Nam Vang, nay thuộc tỉnh Cần Thơ, địa phận Long Xuyên). Bởi bản tính làm ăn thật thà, biết thờ phụng Chúa, nên Chúa thưởng cho người chồng gầy được sự nghiệp cơ đồ. Ông Sách cũng lo tạo lập nhà thờ, giúp đỡ bổn đạo, giàu nhân đức, nên dù đến xứ lạ quê người, ông cũng đạt địa vị cao. Ông được đề cử giúp việc làng, lên chức Hương Cả; về việc đạo, ông cũng qua chức Giáp, Biện, Câu cho tới bực Trùm họ.

Ngụ Ḅ Ót độ 5 năm, v́ công việc làm ăn làm không mấy khá giả, nên ông Sách đến cư ngụ ở Cần Chuông, Mặc Bắc, thuộc làng Long Định, tỉnh Vĩnh Long, (nay là Long Thới, Tiểu Cần, Trà Vinh). Lúc đó Giuse Lựu được 15 tuổi, ngày đêm chăm lo giúp đỡ cha mẹ, khai khẩn đất ruộng hoang, qui dân lập ấp, phát triên xă hội.

Về ngụ tại Mặc Bắc, gia đ́nh ông Cả Sách ngày càng thêm khá giả. Ông Sách dùng lời lẽ êm dịu mà khuyên vợ dạy con, gia đ́nh luôn đầm ấm yêu thương, thấm nhuần tinh thần Kitô giáo.

         II.      Giuse Lựu – Một Kitô Hữu Sốt Sắng.

Giuse Lựu đă đến tuổi trưởng thành, nên người cha định bề gia thất cho con. Giuse Lựu kết hôn với bà Martha Thế là con nhà hiền lương đạo đức, biết thương chồng, chăm sóc cho con cái, việc nội trợ đảm đang. Giuse Lựu ở với người này sanh được bảy người con: con đầu ḷng và con út Giuse Lựu chết khi mới sanh; các người con khác là Gioan B. Tín; thạch, Maria Ngải, Gioa B. Nhiên (sau làm trùm họ Mặc Bắc), Ysave Thử.

Khi lo đôi bạn cho Giuse Lựu xong, ông Cả Sách v́ già yếu nên đă nhắm mắt giả từ trần thế. Giuse Lựu vâng lời cha trăng trối mà chăm lo làm ăn và giữ đạo Chúa. Nhà người ở tại xóm Ngọn thuộc họ đạo Mặc Bắc. Người lo lập vườn tạo rẫy, dần xây dựng một sự nghiệp khá lớn. Thời trẻ tuổi, đôi khi ham thích vui chơi như đá gà, đá cá, nhưng khi lớn tuổi, tánh đầm lại, biết kiềm ḷng sửa nết.

Giuse Lựu tính t́nh rất điềm đạm, từ tốn, luôn lấy câu dĩ hoà vi quí làm phương chăm. Đối với kẻ bề trên, người hết ḷng mến phục, với người bề dưới người coi như em cháu, thường giúp đỡ khuyên nhủ. Việc gia đ́nh người lo liệu chu toàn. Những lúc rảnh rỗi, người lấy sách giáo lư đọc và giải thích cho vợ con nghe. Vốn thông minh chăm chỉ, nên khi nghe những lời cha thầy giảng dạy, ông ghi khắc vào ḷng và dạy lại cho cháu xóm giềng. Ông nhắc nhở và làm gương cho người nhà đọc kinh sáng tối, tuỳ dịp mà đi xưng tội chịu lễ.

Ḷng mến Chúa yêu người được dạy bảo từ thuở nhỏ, nên ông gắng nhẫn nhục chịu đựng. Cha Borelle có thuật rằng: “Lần nọ người bị một đứa bất lương kia mắng nhiếc thậm tệ, mà người cứ lặng thinh; người con thấy vậy nóng ḷng muốn ra tay trị nó, nhưng người can, mà rằng: Thôi con, Chúa Giêsu là Chúa Trời đất, là Đấng vô tội c̣n cam ḷng chịu dân Do thái sỉ nhục, huống chi ta là kẻ tội lỗi, sao chẳng noi gương Chúa mà chịu một hai chút sỉ nhục sao ?”. Người con vâng lời cha, nên nguôi giận mà tha cho tên bất lương ấy”.

Giuse Lựu thường giúp đỡ kẻ khác, làm ơn không mong đáp đền. Một lần ông có việc đi thăm ruộng về, thấy ruộng người bạn kế cận mới cấy, lúa bị nổi nhiều quá, ông không ngần ngại xăng quần nhảy xuống dậm lúa giùm, lúc đói th́ đem cơm ra ăn, rồi tiếp tục dậm lúa tới chiều tối mà vẫn chưa xong, ông mới về bảo chủ ruộng: Ruộng chú em lúa nổi quá sao không lo đi dậm lại, Tôi đă dậm một ngày nay mà chưa rồi, mai lên coi lại kẻo hư hết”.

Những khi Giuse Lựu đi câu cá trở về, dọc đường ai xin th́ cho, mà lựa cá lớn cho đi, chỉ giữ lại số cá đủ gia đ́nh ăn thôi. Chi đi đường hễ gặp “bờ bọng” đâu hư bể th́ ông lo sửa lo đấp lại bất kỳ của ai. Thật Giuse Lựu là một người bổn đạo hết ḷng thờ Chúa, yêu người nên xứng đáng bực cao siêu Chúa thưởng vô cùng.

     III.       Giuse Lựu – Làm Việc Chức Họ.

Biết Giuse Lựu là người có đức có tài, nên cha sở chọn ông làm Chức việc tại họ Mặc Bắc. Ông Biện Lựu chu toàn phận sự trong sở Biện một cách rất tốt đẹp. Nghe ai đau liệt hoặc khốn khó th́ ông đến viếng thăm, nhắc nhở lo việc thiêng liêng, cùng tương trợ phần xác cho đến khi xong việc mới về nhà.

Thời đó Hội Thánh Việt Nam đang bị cấm đạo rất ngặt, nhà thờ bị triệt hạ, bổn đạo phân tán khắp nơi, lén lút Xem lễ, Xưng tội. Ông Biện Lựu có nhà cửa rộng răi, ngăn nấp, sắm sẵn một bàn thờ, nên các cha thường đến trú ngụ và dâng thánh lể. Nhà ông Biện Lựu lúc đó trở nên nhà nguyện nhỏ cho bổn đạo tụ tập lo việc thiêng liêng.

Ông Biện Lựu thường đưa rước các cha đến làm lễ và ban các Bí tích cho bổn đạo. Mỗi lần có cha tới họ đạo, ông thông báo cho bổn đạo biết và khuyên nhủ mọi người đến tham dự. Khi thi hành phận sự, ông kể ḿnh là một người đàn anh, răn dạy em cháu chứ không cậy chức quyền to tiếng, nên ai ai cũng đều mến phục ông. Đang phải thời buổi tân toan cực nhọc, ông không một lời than thở, mà lại vui ḷng nữa. Ông thật là một ông Chức việc rất cần mẫn chu toàn trách nhiệm, đáng nên gương cho hàng Quới Chức. Cha sở thấy ông Biện Lựu khuya sớm không ngại cực khổ, mà niên tuổi khá cao, có đức có tài, nên đặt ông làm Trùm Nhứt họ Mặc Bắc.

Tuy làm đến bậc Trùm họ, bậc cao nhất trong hàng Quới Chức, nhưng cách cư xử  ông Trùm  cũng vẫn là thái độ hiền lành, thật thà. Ông đối xử ôn tồn với người cao tuổi và hiền hậu với người nhỏ tuổi. Những lúc rảnh rỗi, ông Trùm thường đi thăm viếng những nhà đang buồn sầu mà ủi an dạy bảo, đến nhà nghèo túng ông mở tay phân phát mắm, muối, dầu đèn…

Ông Trùm thương yêu giúp đỡ mọi người, nhưng nếu ai sai phạm luật th́ ông phạt chẳng tha. Ông ra h́nh phạt những kẻ hay nói tục chửi thề: hễ ông bắt được ai chửi thề thô lỗ th́ phạt mấy đồng tiền. Ai ai trong bổn đạo đều mến thương ông, nhưng cũng nể sợ ông lắm: v́ ông thiên vị ai cả.

Ông Trùm quảng đại dâng cúng ruộng vườn cho nhà chung Mặc Bắc để hưởng huê lợi cho đến ngày nay. Ông cũng dâng tiền bạc để tái tạo một Nhà phước cho các chị em Ḍng Mến thánh giá cư ngụ, gần nền nhà thờ cũ Mặc Bắc, là nơi táng xác ông khi ông chịu chết v́ đạo.

      IV.      Giuse Lựu – Bị Bắt V́ Đạo.

Vào năm 1848, vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo rất ngặt: Hễ bắt được Tây dương đạo trưởng” (giáo sĩ nước ngoài) th́ cột đá vào cổ neo xuống biển cho chiết: hể bắt “thầy đạo bổn quốc” (giáo sĩ trong nước) th́ tra tấn ḱm kẹp; nếu không chịu bỏ đạo, th́ khắc hai chữ “tả đạo” vào g̣ má và bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, c̣n bổn đạo th́ chỉ xử đánh gậy phạt rồi cho về quê.

Đến tháng 3 năm 1851, Vua Tự Đức lại ra một chiếu chỉ mới: Hể gặp Tây dương đạo trưởng đâu th́ trảm quyết (chặt đầu) quăng đầu xuống sông xuống biển; gặp thầy đạo bổn quốc th́ phân thây làm đôi, dầu quá khóa (bỏ đạo) hay không cũng vậy; c̣n nhà nào chứa chấp thầy đạo cũng bị phân thây, con cái phải chịu lưu đày chung thân.

Dù biết trước những nguy cơ sẽ xảy đến, nhưng ông Trùm Giuse Lựu vẫn cứ thi hành phận sự của người đạo đức và chức việc họ. Ông Trùm vẫn t́m cách đưa đón các cha đến giúp giáo dân trong họ. Lúc này cha Phêrô Lựu (sau tử v́ đạo ở Mỹ Tho) đang làm chánh sở Mặc Bắc.

Khổ thay, có vài người bổn đạo xấu nết ham tiền là bếp Nhẫn, lư Vắp, xă Hiệp. Những người này thường đi hăm dọa bổn đạo trong họ mà kiếm tiền, năng tới lui với Cha Phêrô Lựu mà xin xỏ tiền bạc. Một lần nọ, bếp Nhẫn đến xin Cha Phêrô Lựu 100 quan tiền để lo việc riêng xong mới đi xưng tội mùa Phục Sinh. Lúc đó cha Phêrô đang xây lo cất Nhà phước, nên không có tiền dư mà giúp. Bếp Nhẩn bực tức, muốn đi tố cáo cha cho quan tỉnh, nhưng rồi cha Phêrô được lệnh đổi đi Ba Giồng ( nay địa phận Mỹ Tho), cha Philipphê Minh đến Mặc Bắc thay thế mà nó không hay.

Có lần bọn nó đ̣i bổn đạo phải nộp cho nó 600 quan tiền, nếu không th́ nó đi tố cáo; lần khác đ̣i 500 quan tiền, nhưng bổn đạo ch́ cho nó có 100, nó chê ít, lại nó c̣n hờn cha Phêrô Lựu, nên Bếp Nhẫn đă đến quan tỉnh để tố cáo bổn đạo họ Mặc Bắc ẩn chứa cha thầy:

-Bm quan lớn, có đạo trưởng Lựu đang ở tại xứ Mặc Bắc, tại làng Long Định đang lo lập họ đạo.

Quan tỉnh nghe lởi lập tức truyền lệnh cho quan lĩnh binh Thường đem quân lính đến tận nơi khám xét. Lúc đó cha Philipphê Minh mới đến thế cha Phêrô Lựu được 18 ngày. Quan binh xuống ghe trương bườm thẳng đến đậu tại vàm Cần Chông (Mặc Bắc) và cho lính vào thám thính.

Xă Hiệp nghe có quan quân đến th́ cho vợ đến nhà ông Trùm Lựu, giả xin xưng tội mà dọa thám. Vợ xă Hiệp đến gặp bà Trùm, bà hỏi tới có việc chi th́ thưa rằng:

-Thưa bà tôi đi xin cha làm phước cho tôi...

Bà Trùm sinh nghi, nên nói cha không có ở nhà, anh ta quay trở ra, nhưng vẫn lén núp trong sân theo dơi và biết có cha. Chiều tối xă Hiệp đến gặp cha Minh và làm bộ thưa rằng:

-Con đến mừng cha;

Nói chuyện với cha xong. Th́ xă Hiệp trở về. Ông Trùm biết có điềm chẳng lành xảy tời đêm nay. Thật vậy, xă Hiệp về nhà, lập tức kêu bếp Nhẫn và lư Vắp cùng với quan lănh và đội lính đến vây nhà ông Trùm. Lúc ấy lối canh hai, cha Philipphê Minh đang nghe học tṛ đọc sách gẫm th́ nghe có tiếng hô to:

-“Các vệ, hăy giữ cho nhặt đừng cho chạy thoát”.

Tiếng “dạ” rân vừa dứt, ba tiếng súng nổ phát lên.

Danh Nhiên là con ông Trùm vào thưa cha Philipphê Minh:

-Thưa cha có người đến bắt cha; quan lănh binh có ống loa.

Cha Philipphê Minh ra trước bàn thờ mà cầu nguyện, c̣n ông Trùm, bà Trùm và chị em Danh Nhiên soạn đồ lễ đem cất giấu. Danh Nhiên hỏi vói ra ngoài:

-Các ông đến việc chi cho tôi biết?

-Mở cửa có quan đến.

Cha Minh liền bảo các người nhà lo trốn, c̣n chính cha th́ ở lại may ra có thể cứu nhà ông Trùm. Quan quân đạp cửa tràn vào nhà, ông Trùm thấy sự t́nh, can đảm bước ra hỏi:

-Các ông đến nhà tôi làm chi nửa đêm nửa hôm làm vậy?

Quan nói:

Ta đến bắt đạo trưởng Lựu giải lên tỉnh; thằng Hiệp, Nhẫn, Vắp nói ông chứa đạo trưởng trong nhà, vậy chớ đạo trưởng ở đâu?

Ông Trùm c̣n ngần ngại, một tên lính nói:

-Lăo già không chịu thưa, chém đầu.

Ông Trùm đáp:

-Không có đạo trưởng Lựu, Lựu chính là tôi!.

Quân lính tiến đến tra tấn đánh đập ông Trùm và hỏi dồn:

-Đạo trưởng Lựu ở đâu?. Nhưng ông vẫn quyết định một lời:

-Không có đạo trưởng Lựu, Lựu là tôi.

Đ̣n càng lúc càng thấm, mà ḷng khí khái cũng càng giữ chặt hơn. Cha Philipphê Minh lúc đó dang trốn trong một cái gương xe, thấy con cái phải đau khổ, c̣n ḿnh thoát nạn, cha nóng ḷng nói với bà Trùm:

-Tôi phải ra, kẻo chúng nó làm khổ ông Trùm.

Cha bước ra và nói:

-Tôi là đạo trưởng, các ông đừng t́m đâu nữa làm chi, các ông hăy bắt tôi và tha mấy người nầy đi.

Nh́n thấy diện mạo h́nh vóc dáng cha Minh gầy c̣m ốm yếu, quân lính trưởng là “dân ghiền” nào ở đâu, nhưng bếp Nhẫn lại bước vào và quả quyết Ông này là đạo trưởng”.

Quan bảo quân lính lấy khăn trói ké hai tay cha thật chặt. Sợ cha làm phù phép mà biến đi mất, nên quân lính rẽ tóc Cha Minh ra và buộc vào cột nhà, cho hai tên lính cầm gươm canh giữ hai bên.

Kế đó, quan cho mời Phó tổng Trị, xă Kim, hương Sĩ, lư Oai đến quở trách nặng lời, v́ đă để cho ông Trùm Lựu chứa đạo trưởng trong nhà. Quan lại hỏi ông Trùm:

-Ông lấy phép nào mà đem đạo trưởng vào nhà?

-Thầy tôi đến, tôi nuôi, tôi không tŕnh với ai cả.

Quan ra lệnh “đóng gông” và “trói ké” hết thảy mọi người trong nhà, đêm xuống ghe giải về tỉnh, đó là đêm 26 tháng 2 năm 1853 vào thứ bảy áp Chúa nhật thứ ba Mùa Chay. Tới Vĩnh Long là tối thứ hai, đêm đó phải ngủ dưới ghe, sáng thứ ba quân mới điệu cha Philipphê Minh, ông Trùm Lựu và các bạn ra trước công đường.

         V.      Giuse Lựu – Chết Rũ Tù V́ Đạo.

Sáng đến, quan Đốc bộ Lư, quan án sát Doăn và quan bố chánh Hoài lập toà án mà xét xử những người theo đạo Gia tô. Cha Philipphê Minh, ông trùm Lựu và các người cùng bị bắt được dẩn đến, đứng ngoài thềm giữa trời nắng mà chịu các quan tra tấn vấn. Chung quanh có hai mươi lính hầu canh gác cẩn mật.

Quan hỏi cha philipphê Minh ai đă đem người về nhà mà ẩn chứa, cha chưa kịp trả lời, ông Trùm lẹ miệng nói rằng:

-Chính là tôi chứa ngài đó.

Lời này đủ cho ông phải chịu chết; các quan bảo ông bỏ đạo, đạp qua ảnh Chúa, ông không chịu mà nói rằng:

-Cha tôi chết, tôi chết với người, chớ phạm ảnh th́ tôi không.

Các quan tra vấn cha Philipphê Minh đủ mọi lẽ rồi day lại hỏi ông Trùm:

-Mọi lời ông thầy khai vậy có phải không?.

-Bẩm phải.

Quan tra khảo từng người bị bắt, biết Danh Nhiên là con ông Trùm Lựu th́ truyền thả, v́ bắt cha th́ tha con”. Ông Nhiên dù được tha nhưng c̣n lẩn quẩn theo giúp các đấng bị bắt v́ đạo.

Lấy lời khai của các tù nhân xong, quan truyền lệnh tống giam cha Minh và 6 người bị bắt vào trại Vĩnh Tiền gần dinh cho dễ bề tra hỏi. Mỗi người phải mang vào cổ một cái “gông thiết diệp” là thứ gông lớn có kèm lá sắt. Trong trại giam, may có tên lính công giáo dọn một chỗ cao sạch sẽ cho cha Minh, c̣n mấy ông khác th́ ngồi bẹp dưới đất. Cha con hẩm hút chịu muỗi đốt mồng bu. Ông Trùm v́ thân già sức yếu lại bị nặng đ̣n nên coi ông gầy c̣m xanh xao.

Trong một tuần lễ, mỗi ngày quan bắt dẫn từng người ra điều tra, đánh đập, bắt bỏ đạo. Cha Philipphê Minh và các Quới chức gắng sức chịu xử, chịu roi đ̣n đến cùng.

Bảy ngày trôi qua, quan thấy ḷng kiên cố chí nhẫn nại của các tù nhân v́ đạo, nên quan ra lệnh chuyển sang trại Tuyển Phong là trại để giam những người giàu sang bị tội, qua đó th́ có Danh Nhiên tới lui thăm viếng giúp đỡ công việc. Các quan bắt ép ông Trùm đạp ảnh Chúa, nhưng ông không chịu, nên bảo lính đánh ông 100 gậy. Mang thân già c̣n da bọc xương, mỗi một lằn roi là một vết thương đau thấu ruột gan, vậy mà ông cứ ḷng niệm kinh, miệng kêu Chúa.

Ngày qua ngày tra tấn, dụ dỗ, dọa nạt, nhưng các đấng vẫn kiên tâm không hề lai chuyển, nên các quan dâng sớ về kinh, xin vua cho án xử trảm quyết cha Philipphê  Minh, c̣n ông Trùm Lựu và các chức việc th́ luận án “xử trượng” rồi “phát lạc hồi thôn”. Vua không châu phê theo y án Vĩnh Long, nhưng ra chỉ dụ xử tử cha Minh, c̣n các người khác phải bị lưu đày chung thân ở xứ Bắc Kỳ. Sáng ngày 3 tháng 7 năm 1853, các quan lính dẫn cha Minh đi xử tử tại Đ́nh Khao, cách tỉnh lỵ Vĩnh Long 3 cây số.

Bản án cho ông Trùm Lựu như sau:

Tên Nguyễn Văn Lựu và bốn tên kia phải thích tự nó rồi xiềng lại mà đày ra Bắc, tại xứ Tuyên Quang, song có đứa nào biết tộii ḿnh mà hối cải bỏ đạo, th́ quan tỉnh phải xét, nếu có thật ḷng vậy th́ phóng thích cho nó về an cư lạc nghiệp, mà quan tỉnh phải chạy sớ cho triều đ́nh trước đă. Nếu đứa nào cứng cổ bất tuân th́ phải đày nó chung thân, không chỗ nhiêu dung”

Một ít kẻ bị bắt thấy bản án nặng quá, th́ nao ḷng bỏ đạo để trở về cùng vợ con. Ông Trùm dùng lời lẽ êm dịu cùng chan ḥa nước mắt để khuyên lơn, nhưng các người ấy quá ngă ḷng…th́ ông khuyên dạy về nhà phải lo sám hối ăn năn…Ông Trùm Lựu, ông tổng trị, ông Thủ Quyền th́ cứ vâng lời thánh tử đạo trối mà kiên trung cùng Chúa, đành chịu chết v́ đạo.

Các quan tỉnh xét thấy án ông Trùm Lựu chung thân là quá nặng, v́ ông đă già yếu, lại con ông có lên đút tiền cho quan, nên không đày ông ra Bắc, chỉ đày lên tỉnh Châu Đốc. Quan tỉnh Châu đốc sợ ḿnh phải tôi liên can v́ cải án vua, nên gởi trả lại cho các quan Vĩnh Long. Ông Trùm c̣n phải giam lại tại khám đường Vĩnh Long thêm gần một năm nữa.

Ông vẫn vững vàng xưng đạo thánh ra luôn. Ông năng chịu các phép Bí tích, nhất là lúc thánh Philipphê Minh c̣n bị giam trong ngục, sau th́ có cha Đoan, cha Phiên và thánh Phêrô Lựu là cha sở cựu của ông. Có lần ông thưa cùng cha Đoan rằng:

-Lạy cha, xin cha cầu nguyện cho con, cho con đặng ḷng mạnh mẽ vững vàng cho đến cùng. Con gần đi đày, con phú dưng mọi sự trong tay Chúa; con trông cậy ḷng nhân từ Chúa mà thôi. Con xin chịu mọi sự theo ư Chúa; vợ con con Chúa sẽ lo; con không c̣n thương tiếc sự ǵ nữa.

Ông Lê Đạo Quyền là người ở khám với ông trùm đă làm chứng: “ Ngày lễ tro (năm 1854) ông Trùm xưng tội lần sau hết, và làm việc đền tội luôn 15 ngày, mỗi ngày đọc một kinh tám mối phước thật và thêm  kinh Lạy Cha một kinh Kính Mừng. Qua mùng 1 tháng Đức Bà năm đó, ông v́ sức yếu hơi cùng, nhuốm bệnh đau trong ngực tức tối hết sức”.

Đă tới ngày ohải ra đi, v́ những h́nh khổ lao tù, những cuộc tra tấn nặng nề, mang gông đeo xiềng, lại thêm bệnh hoạn, đă làm kiệt sức tuổi già của ông Trùm Lựu. Cha Borelle (Hoà) thuật rằng: Buổi sáng sớm th́ ông nói rơ ràng, ai nấy đều lấy làm lạ và đưa cho ông một chén thuốc xin ông uống, th́ ông nói rằng: “Không ích ǵ nữa và tôi cũng không muốn ăn uống giống ǵ nữa.” Đoạn ông nín lặng một giây lâu mà đem ḷng trí suy về Chúa như bất tỉnh. Bà Trùm và hai con sợ ông mê, nên kêu hỏi cho ông tỉnh lại th́ ông nói: “Xin các người để cho tôi lo việc trong tôi, các người ở yên, tôi tỉnh không mê mẩn ǵ đâu”.

Qua đêm sau, chừng 3 giờ khuya, ông ngồi dậy ba lần, tay ông bám vào bờ tường, cố đứng dậy ngước mắt lên trời, ông xin mọi người chung quanh giúp đọc kinh cầu nguyện cho ḿnh. Đến lần thứ ba ông kêu lên: Giêsu, Maria, Giuse; lạy Đức Bà là Mẹ con, xin Đức Mẹ cứu giúp con”. Vừa dứt tiếng, ông từ từ ngă xuống nền nhà và trút hơi thở cuối cùng, vào ngày 2 tháng 5 năm 1854, sau ngày thánh Philipphê Minh tử đạo gần một năm. Giây phút êm đềm giữa ngục, linh hồn ông về chầu Chúa trước mặt vợ con cùng những người chịu khốn khó.

Đến trưa các quan được tin báo th́ đến khám xét coi người đă chết thật chưa. Các quan xem thấy phải bỡ ngỡ, v́ khuôn mặt ông vẫn c̣n vui tươi, miệng như mỉm cười.

Có quan nói: Phải nói là ông ấy ngủ, ông cười”.

Ông khác nói: Thật chúng ta chưa hề thấy xác chết rồi mà c̣n tươi tốt như vậy”.

Các quan chưa tin ông chết, nên truyền cho lính đem đuốc đốt hai đầu ngón chân cái ông nám đen, mới xác định ông chết thật. Quan cho mở xiềng và giao thi hài cho thân nhân mai táng. Bà trùm đă lo sẵn cái quan tài thật đẹp, tẩm liệm xác ông Trùm và chở ngay về họ Mặc Bắc.

Xác đấng thánh tử đạo đem về Mặc Bắc th́ quàn lại ba ngày cho bổn đạo kính viếng. Có 4 linh mục đến cử hành Thánh lễ An táng, do cha Đoan chủ sự, có trên 2000 người tham dự. Thi hài được đặt trong quan tài thật đẹp bằng gỗ qúi, trang hoàng hoa nến sáng, do 50 người khiêng đi mai táng, vừa long trọng vừa trang nghiêm…Xác  đấng thánh tử đạo được chôn táng trong nền nhà thờ củ Mặc Bắc vừa mới bị triệt hạ.

      VI.      Giuse Lựu – Được Tôn Phong.

* Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đă ban tặng ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu lên bực Đáng kính ngày 13 tháng 2 năm 1897.

* Đức Giáo Hoàng Pio X suy tôn người lên bậc Chân phước vào ngày     2 tháng 5 năm 1909.

* Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă tôn phong ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu lên bậc Hiển Thánh vào ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Giáo phận Vĩnh Long đă chọn Thánh Giuse Trùm Lựu làm Bổn mạng cho hàng Quới Chức, và mừng lễ kính hàng năm vào ngày 2 tháng 5.

Lạy thánh Giuse Lựu, xin cầu cho chúng tôi. Xin cho hàng Quư Chức luôn sống theo gương Ngài mà hăng say cộng tác với các linh mục trong tinh thần dấn thân phục vụ, để họ đạo và Giáo phận chúng con ngày càng phát triển tốt đẹp hơn.